GIÁO SƯ NGUYỄN XUÂN NGUYÊN
(1907-1975)
Giáo sư Nguyễn Xuân Nguyên sinh năm 1907, mất năm 1975, ông sinh tại xă Quảng Giao, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Thời niên thiếu ông theo gia đ́nh học tiểu
học ở Hà Tĩnh, trung học ở Vinh (Nghệ An).
Lớn lên ông ra Hà Nội học trường Bưởi.
Sau khi đỗ tú tài, năm 1929 ông thi vào học ở
trường thuốc Đông Dương và tốt
nghiệp bác sĩ y khoa năm 1935 với luận án : Góp
phần nghiên cứu về bệnh nhiễm khuẩn Malléomyces
ở Đông Dương".
Trong thời gian học ở trường thuốc ông
đă tỏ ra là một sinh viên thông minh, hiếu học,
được thầy và bạn kính nể nên khi
bước sang năm học thứ 5, ông được
tuyển chọn làm trợ lư giải phẫu và khi tốt
nghiệp bác sĩ ông được trường Y giữ
lại làm hướng dẫn viên về bệnh học lâm
sàng nhăn khoa (1936-1938) rồi chủ nhiệm khoa Mắt,
chủ nhiệm khoa Ngoại (1939-1943), sau đó ông
được cử làm giảng viên trường Y kiêm
Giám đốc nhà thương chữa mắt ở dốc
Hàng Gà gần chợ Hôm (Đức Viên).
Lúc bấy giờ nhân dân ta bị các bệnh về mắt
chiếm tỷ lệ khá cao mà đặc biệt là
bệnh mắt hột ở các vùng thôn quê do tŕnh độ
vệ sinh quá thấp nhưng người nông dân lại
nghĩ rằng do hướng của đ́nh làng không
thuận, giếng làng đào ở vị trí có long mạch
v.v...Hằng ngày số bệnh nhân bị đau mắt
đến nhà thương dốc Hàng Gà rất đông,
phải xếp hàng chờ đợi, có khi phải ngủ
qua đêm trên vỉa hè chung quanh nhà thương mới
đến lượt vào khám. Do tŕnh độ dân trí c̣n quá
thấp v́ chính sách ngu dân của thực dân Pháp, nhiều
người khi đau mắt đă dùng các loại lá cây,
thậm chí dùng ếch nhái đắp lên mắt làm cho
bệnh mắt hột gây thêm nhiều biến chứng
như mắt toét ba vành, lông quặm dẫn tới mù ḷa
(51% bị mù do mắt hột).
Trước t́nh h́nh đó Giáo sư Nguyễn Xuân Nguyên
đă tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan
đến công tác pḥng và chống bệnh mắt hột.
Chỉ tính từ năm 1935 đến 1945 ông đă công
bố 48 công tŕnh nghiên cứu khoa học trên các tạp chí
trong và ngoài nước. Do có cống hiến cho khoa học,
ông được mời tham dự vào Hội Y học
nhiệt đới (1938), Hội Y học Đông
Dương (1935-1945), Trường Viễn Đông bác
cổ và Hội Nhân chủng học (1940-1945).
Cách mạng tháng 8-1945 thành công, ông không do dự và từ
bỏ tất cả vinh hoa phú quư tham gia cách mạng. Từ
những ngày đầu tháng 10-1945, ông được
cử làm Giám đốc Sở Y tế miền Duyên hải
(Bắc Bộ). Năm 1946 ông được bầu làm
Chủ tịch Ủy ban hành chính rồi Ủy ban Kháng
chiến hành chính Hải Pḥng, kiêm phó giám đốc Quân Dân y
chiến khu 3. Tháng 10.1946 khi Bác Hồ dự hội nghị
Fontainebleau (Pháp) trở về bằng đường
biển, Giáo sư Nguyễn Xuân Nguyên với tư cách
Chủ tịch ủy ban hành chính thành phố Hải Pḥng
đă cùng với đại diện Quốc hội,
đại diện Chính phủ ra Hạ Long đón đoàn
về Hải Pḥng.
Năm 1948-1952, ông là ủy viên Ủy ban kháng chiến hành
chính Liên khu 3 kiêm Giám đốc Sở Y tế Liên khu 3.
Năm 1952 ông là một trong những cán bộ giảng
dạy ṇng cốt của Trường y sĩ Việt Nam
Liên khu 3-4 ở Thanh Hóa. Khi trường này sáp nhập
với Trường đại học Y khoa ở Việt
Bắc, ông vẫn tiếp tục tham gia giảng dạy
bộ môn Mắt.
Ḥa b́nh lập lại trên nửa đất nước, ông
là một trong số 9 cán bộ giảng dạy đầu
tiên của trường Đại học Y Dược Hà
Nội được nhà nước phong học hàm giáo
sư và được giao nhiệm vụ Chủ nhiệm
bộ môn Nhăn khoa Trường đại học Y
dược Hà Nội kiêm Giám đốc Bệnh viện
Mắt rồi Viện trưởng Viện mắt.
Từ năm 1960 trở đi ông c̣n được bầu
vào Quốc hội và đợc cử làm ủy viên ủy
ban Thường vụ Quốc hội, phó Chủ tịch
Tổng hội Y học Việt Nam, Chủ tịch hội
Nhăn khoa và là ủy viên thường trực của
Đảng Xă hội Việt Nam.
Trong bất cứ nhiệm vụ nào được giao ông
cũng đem hết tâm huyết và nghị lực
để hoàn thành với hiệu quả cao nhất. Khi làm
công tác quản lư ông đă có nhiều đóng góp trong các
vấn đề xă hội nói chung và sức khỏe
của nhân dân nói riêng. Khi làm công tác giảng dạy, ông là
người thầy uyên bác, mô phạm, tận t́nh chỉ
bảo cho các thế hệ học tṛ, ông c̣n có biệt tài
về sư phạm nên khi giảng dạy tuy có nhiều
đối tượng và tŕnh độ khác nhau nhưng ai
cũng hiểu và tiếp thu được nhiều cái
mới trong bài giảng của ông. Khi làm công tác nghiên
cứu ông rất thực tế, luôn luôn t́m những
biện pháp phù hợp với hoàn cảnh nông thôn Việt
Nam để pḥng và chống bệnh mắt hột mà sau
khi ḥa b́nh được lập lại, Chính phủ,
Bộ Y tế đă xếp vào một trong các bệnh xă
hội cần phải giảm dần tỷ lệ mắc
bệnh, tỷ lệ mù, tỷ lệ gây biến chứng
tiến tới thanh toán bệnh mắt hột. Ngoài
việc thực hiện phong trào xây dựng ba công tŕnh
hố xí, giếng nước, nhà tắm...ông c̣n kêu gọi
bà con nông dân mỗi người phải có một khăn
mặt riêng, phải rửa tay, rửa mặt bằng xà
pḥng...Về thuốc chữa mắt hột ông đề
ra việc sử dụng Palmatin (Hoàng đằng) là
loại dược liệu có sẵn trong nước,
nhũ tương Filatov ...
Để giảm tỷ lê người mù do lông quặm,
ông đă đề ra việc phổ cập mổ quặm
về đến tuyến xă. Năm 1975, trong chuyến
đi công tác ở các tỉnh phía Nam, ông bị lâm bệnh
đột ngột, được Giáo sư Phạm
Biểu Tâm điều trị cho bằng phẫu thuật
nhưng v́ bệnh quá nặng ông đă qua đời.
Với cụm công tŕnh nghiên cứu bệnh mắt hột
và bệnh mũ ḷa ở Việt Nam từ năm 1938
đến 1975, tháng 9-1996, Giáo sư Nguyễn Xuân Nguyên
đă được Nhà nước ta tặng Giải
thưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự ghi nhận công
lao của người đă đi tiên phong trong công tác pḥng
và chống bệnh mắt hột ở Việt Nam.
Cụm công tŕnh được tặng giải
thưởng HCM:
1. Các công tŕnh nghiên cứu bệnh mắt hột và bệnh
mù loà ở Việt Nam (1938-1975)