title1.gif (26284 bytes)

2004  

Hội đồng xét thưởng giải Nobel của Viện Karolinska thông báo trao giải thưởng Nobel về Y Sinh học năm 2005 cho hai nhà khoa học người Australia Barry J. MarshallJ. Robin Warren do phát hiện của họ về "vi khuẩn Helicobacter pylori và vai trò của nó trong bệnh viêm dạ dày và loét dạ dày".  

Chi tiết

2004

Ngày 4 tháng 10 vừa qua, giải Nobel Y học năm 2004 đã được trao cho 2 nhà khoa học Mỹ là Richard Axel và Linda B. Buck với công trình nghiên cứu "Các thụ thể mùi và tổ chức của hệ thống khứu giác"

Chi tiết

2003

Hội đồng Nobel Viện Karolinska (Thụy Ðiển) đã quyết định trao giải thưởng Nobel sinh lý và y học cho hai nhà bác học Paul C. LauterburPeter Mansfield đã có công phát minh những ứng dụng của hiện tượng cộng hưởng từ (magnetic resonance) trong y học. 

Chi tiết

2002

Giải Nobel Y Sinh học năm 2002 được trao cho Sydney Brenner, H. Robert HorvitzJohn E. Sulston vì những khám phá của họ về "Ðiều hòa di truyền trong phát triển tạng và chết tế bào theo chương trình"

Chi tiết

2001

Giải Nobel Y học năm 2001 thuộc về các công trình khám phá sự kiểm soát chu kỳ của tế bào. Các nhà khoa học đã tìm ra các phân tử có vai trò then chốt kiểm soát chu kỳ tế bào trong tất cả các cơ thể có nhân thực bao gồm nấm men, thực vật, động vật và con người. Những khám phá cơ bản này có tác động to lớn vào tất cả các khía cạnh sinh trưởng tế bào.  

Chi tiết

Leland Hartwell (sinh năm 1939, người Mỹ), Trung tâm nghiên cứu Ung thư Fred Hutchinson, Seattle (Mỹ), được nhận giải thưởng cho những khám phá về nhóm gen đặc trưng kiểm soát chu kỳ tế bào. Một trong những gen này là các gen "khởi động" có vai trò chính trong kiểm soát bước đầu tiên của mỗi chu kỳ tế bào. Hartwell cũng đưa ra khái niệm "trạm kiểm soát", một hỗ trợ có giá trị cho hiểu biết về chu kỳ tế bào.

Paul Nurse (sinh năm 1949, người Anh), Quỹ Nghiên cứu Ung thư Hoàng gia ở London (Anh) đã tìm ra, nhân bản vô tính và mô tả bằng các phương pháp di truyền học và phân tử , một trong những tác nhân then chốt kiểm soát chu kỳ tế bào là CDK (men kinase phụ thuộc cyclin). Ông cũng cho thấy chức năng của CDK được duy trì ở mức độ cao trong quá trình tiến hóa. CDK điều khiển tế bào thông qua chu kỳ tế bào bằng sửa đổi hóa học (phosphoryl hóa) của các protein khác.

Timothy Hunt (sinh năm 1943, người Anh), Quỹ Nghiên cứu Ung thư Hoàng gia ở London, được nhân giải thưởng cho khám phá của ông về các cyclin, protein điều chỉnh chức năng CDK. Ông phát hiện ra rằng các cyclin bị thoái hóa một cách định kỳ ở mỗi lần phân chia tế bào, một cơ chế quan trọng trong kiểm soát chu kỳ tế bào. 

2000

Arvid Carlsson, Thụy Điển, Paul Greengard, Mỹ và Eric Kandel, Mỹ gốc áo, nghiên cứu về cơ chế truyền thông tin trong hệ thần kinh, đem lại khả nǎng triển khai các thuốc điều trị bệnh Parkinson và tâm thần phân liệt.

    Chi tiết

1999

Guynter Blobel, Đức, phát hiện protein mang những tín hiệu thiết yếu điều khiển sự chuyển vận và định vị của chúng trong tế bào. Một số bệnh di truyền của con người có nguyên nhân do sai lạc tín hiệu và cơ chế chuyển vận này.

1998

Robert F. Furchgott, Louis J. Ignaro và Ferid Murad, Mỹ, phát hiện oxid nitric như một phân tử báo hiệu trong hệ tim mạch, là một vũ khí chống nhiễm khuẩn và điều chỉnh huyết áp.

1997

Stanley B. Prusiner, Mỹ, phát hiện những hạt protein có tính chất lây truyền, gọi là prion, một tác nhân gây nhiễm trong một số bệnh não, như bệnh bò điên.

1996

Peter C. Doherty, Australia và Rolf M. Zinkernagel, Thụy Sĩ, phát hiện cách thức hệ miễn dịch nhận dạng các tế bào nhiễm bệnh.

1995

Edward B. Lewis và Eric F. Wieschaus, Mỹ: và Christiane Nueslein- Volhard, Đức, phát hiện cách thức gen kiểm soát sự phát triển của bào thai người trong tử cung.

1994

Alfred G. Gilman và Martin Rodbell, Mỹ, phát hiện về G-protein và cách thực tế bào làm rối loạn các thông điệp và thúc đẩy bệnh tật.

1993

Richard J. Robert, Anh, và Phillip A. Sharp, Mỹ, phát hiện về gen tách "split genes" làm thay đổi quan niệm khoa học về sự tiến hoá và những nghiên cứu mới về các bệnh di truyền, bao gồm một vài loại ung thư.

1992

Edwin G. Krebs, Mỹ, Edmond H. Fischer, Mỹ và Thụy Sĩ, những phát hiện về quá trình "phospho hoá protein nghịch đảo" giúp giải thích tại sao sự mất cân bằng ở tế bào lại gây bệnh.

1991

Neher và Bert Sakmanm, Đức, phát hiện ra các dòng ion đơn trong tế bào, làm rõ cơ chế gay một số bệnh bao gồm đái tháo và u nang xơ.

1990

Joseph E. Murray và E. Donnall Thomas, Mỹ, nghiên cứu về ghép cơ quan và tế bào điều trị bệnh cho người.

1989

J. Michael Bishop và Harold E. Varmus, Mỹ, phát hiện một loại gen giúp tìm hiểu quá trình phát triển ung thư.

1988

James W. Black, Anh, nghiên cứu về thuốc phong bế bêta dùng cho bệnh tim và thuốc điều trị léot dạ dày: và Gertrude Elison và George H. Hitchings, Mỹ, nghiên cứu về thuốc chống AIDS, herpers, bệnh bạch cầu và sốt rét.

1987

Susumu Tonegawa, Nhật Bản, phát hiện cơ thể làm thế nào có khả nǎng sản xuất hàng nghìn kháng thể khác nhau để chống lại bệnh tật.

1986

Stanley Cohen, Mỹ và Rita Levi- Montalcini, Italya, nghiên cứu cơ chế điều chỉnh sự phát triển của tế bào và các cơ quan trong cơ thể.

1985

Michael S. Brown và Joseph L. Goldstein, Mỹ, nghiên cứu về cholesterol và các bệnh có liên quan với cholesterol.

1984

Niels Kaj Jerne, Thụy Sĩ và Georger Koehler, CHLB Đức và Cesar Milstein, Anh, các nghiên cứu về miễn dịch học.

1983

Barbara McClintock, Mỹ, nghiên cứu về di truyền học.

1982

John R. Vane, Anh, và Sune Bergstrom và Bengt Samuelsson, Thụy Điển, nghiên cứu về các hormon tuyến.

1981

David H. Hubel và Torsten Wiesel, Mỹ, phát hiện rằng kích thích thị giác ở trẻ nhỏ có quan hệ với thị lực trong tương lai; và Roger W. Sperry, Mỹ, trình bày một kiểu phân công các hoạt động não.

1980

George D. Snell và Baruj Benacerraf, Mỹ; và Jean Dausset, Pháp, công trình về các cấu trúc xác định di truyền trên bề mặt tế bào có tác dụng điều chỉnh các phản ứng miễn dịch.

1979

Alan M. Cormack, Mỹ; và Godfrey Newbold Hounsfield, Anh, triển khai kỹ thuật X-quang cát lớp có gắn máy tính.

1978

Daniel Nathans và Hamilton O. Smith, Mỹ; và Werner Arber, Thụỵ Sĩ, nghiên cứu phương pháp tách vật liệu di truyền.

1977

Rosalyn Sussman Yalow, Andrew Vincent và Robert C.L. Guillemin, Mỹ, kỹ thuật mới xử lý hệ nội tiết và kiểm soát về mặt hoá học đối với các xúc cảm và bệnh thái của người.

1976

Giải được trao cho BARUCH S. BLUMBERG và D. CARLETON GAJDUSEK vì những khám phá liên quan đến những cơ chế mới về nguồn gốc và sự lây lan của các bệnh nhiễm trùng.

1975

Giải được trao cho DAVID BALTIMORE, RENATO DULBECCO và HOWARD MARTIN TEMIN vì những khám phá liên quan đến tương tác giữa các virus khối u và chất liệu di truyền của tế bào.

1974

Giải được trao cho ALBERT CLAUDE, CHRISTIAN DE DUVE và GEORGE E. PALADE vì những khám phá liên quan đến tổ chức cấu trúc và chức nǎng của tế bào.

1973

Giải được trao cho KARL VON FRISH, KONRAD LORENZ và NIKOLAAS TINBERGEN vì những khám phá liên quan đến tổ chức và suy luận các mô hình hành vi cá nhân và xã hội.

1972

Giải được trao cho GERALD M. EDELMAN và RODNEY R. PORTER vì những khám phá liên quan đến cấu trúc hóa học của kháng thể.

1971

Giải được trao cho EARL W.JR. SUTHERLAND vì những khám phá liên quan đến cơ chế hoạt động của các hormon.

1970

Giải được trao cho BERNARD KATZ, ULF VON EULER vì những khám phá liên quan đến các chất dẫn truyền dịch thể ở đầu mút dây thần kinh và các cơ chế lưu trữ, giải phóng và bất hoạt chúng.

1969

Giải được trao cho MAX DELBRUCK, ALFRED D. HERSHEY và SALVADOR E. LURIA vì những khám phá liên quan đến cơ chế sao nhân và cấu trúc gen của các virus.

1968

Giải được trao cho ROBERT W. HOLLEY, HAR GOBIND KHORANA và MARSHALL W. NIRENBERG vì sự diễn giải của họ về mã di truyền và chức nǎng của nó trong tổng hợp protein.

1967

Giải được trao cho RAGNAR GRANIT, HALDAN KEFFER HARTLINE và GEORGE WALD vì những khám phá liên quan đến những quá trình hoá học và sinh lý học cơ bản của thị giác trong mắt.

1966

Giải thưởng được chia đôi, một nửa trao cho PEYTON ROUS vì những khám phá của ông về virus gây khối u

Còn một nửa trao cho CHARLES BRENTON HUGGINS vì những khám phá liên quan đến điều trị ung thư tuyến tiền liệt bằng hormon.

1965

Giải được trao cho FRANCOIS JACOB, ANDRé wolf và JACOUES MONOD vì những khám phá liên quan đến enzym điều khiển di truyền và tổng hợp virus.

1964

Giải được trao cho KONRAD BLOCH và FEODOR LYNES vì những khám phá liên quan đến cơ chế và điều hòa chuyển hoá cholesterol và acid béo.

1963

Giải được trao cho JOHN CAREW ECCLES, ALLAN LLOY HODGKIN và ANDREW FIELDING HUXLEY vì những khám phá liên quan đến cơ chế ion tham gia kích thích và ức chế những tiểu phân trung tâm và ngoại vi của màng tế bào thần kinh.

1962

Giải được trao cho FRANCIS HARRY COMPTON CRICK, JAMES DEWEY WATSON và MAURICE HUGH FREDERICK WILKIN vì những khám phá liên quan đến cấu trúc phân tử của các acid nhân và ý nghĩa của chúng đối với sự truyền thông tin trong chất liệu sống.

1961

Giải được trao cho GEORG VON békésy vì khám phá của ông về cơ chế vật lý của kích thích trong ốc tai.

1960

Giải được trao cho FRANK MACFARLANE BURNET và PETER BRIAN MEDAWAR vì những khám phá về dung nạp miễn dịch mắc phải.

1959

Giải được trao cho SEVERO OCHOA và ARTHUR KORNBERG vì khám phá của họ về cơ chế sinh tổng hợp acid ribonucleic và acid deoxiribonucleic.

1958

Giải thưởng được chia đôi, một nửa trao cho những khám phá của GEORGE WELLS BEADLE và EDWARD LAWRIE TATUM cho thấy gen hoạt động nhờ những hiện tượng hóa học xác định và nửa kia trao cho những khám phá của JOSHUA LEDERBERG về tái tổ hợp di truyền và tổ chức chất liệu di truyền của vi khuẩn.

1957

Giải được trao cho DANIEL BOVET vì khám phá về những hợp chất tổng hợp ức chế hoạt động của một số chất trong cơ thể, đặc biệt là tác dụng của chúng trên hệ tim mạch và cơ xương.

1956

Giải được trao cho ANDRé frédéric COURNAND, WERNER FORSSMANN và DICKINSON W. RICHARD vì những khám phá về thông tim và những thay đổi bệnh lý trong hệ tuần hoàn.

1955

Giải được trao cho AXEL HUGO THEODOR THEORELL vì những khám phá liên quan đến bản chất và mô hình hoạt động của các enzym oxi hóa.

1954

Giải được trao cho JOHN FRANKLIN ENDERS, THOMAS HUCKLE WELLER và FREDERICK CHAPMAN ROBBIN vì những khám phá về khả nǎng nuôi cấy virus bại liệt trên nhiều loại mô khác nhau.

1953

Giải thưởng được chia đôi, một nửa trao cho HANS ADOLF KREBS cho khám phá về chu trình acid citric, còn nửa kia trao cho FRITZ ALBERT LIPMANN vì khám phá về co-enzym A và tầm quan trọng của nó trong chuyển hóa trung gian.

1952

Giải được trao cho SELMAN ABRAHAM WAKSMAN vì khám phá về streptomycin, kháng sinh đầu tiên có tác dụng chống bệnh lao.

1951

Giải được trao cho MAX THEILER vì những khám phá về bệnh sốt vàng và cách chống lại bệnh này.

1950

Giải được trao cho EDWARD CALVIN KENDALL, TADEUS REICHSTEIN và PHILIP SHOWALTER HENCH vì những khám phá về hormon vỏ thượng thận, cấu trúc và tác dụng sinh học của chúng.

1949

Giải thưởng được chia đôi, một nửa trao cho WALTER RUDOLF HESS vì những khám phá về tổ chức chức năng của não trung gian là vùng điều phối hoạt động của các cơ quan nội tạng, còn nửa kia trao cho ANTONIO CAETANO DE ABREU FREIRE EGAS MONIZ vì những khám phá về giá trị của thủ thuật cắt thuỳ trước trán trong điều trị một số chứng bệnh loạn thần

1948

Giải được trao cho PAUL HERMANN MULLER vì những khám phá về hiệu quả cao của DDT dùng làm độc chất tiếp xúc chống một số loại ropod.

1947

Giải thưởng được chia đôi, một nửa trao cho CARL FERDINAND CORI và GERTY THERESA CORI (nhũ danh RADNITZ) vì những khám phá về quá trình biến đổi glycogen dưới tác dụng của chất xúc tác, nửa kia trao cho BERNADO ALBERTO HOUSSAY vì những khám phá về vai trò của hormon thuỳ yên trước trong chuyển hóa đường.

1946

Giải được trao cho HERMANN JOSEPH MULLER vì những khám phá về tạo đột biến bằng phương pháp chiếu xạ.

1945

Giải được trao cho ALEXANDER FLEMING, ERNST BORIS CHAIN và HOWARD WATER FLOREY vì những khám phá về penicillin và tác dụng chữa khỏi nhiều bệnh nhiễm trùng của nó.

1944

Giải được trao cho JOSEPH ERLANGER và HERBERT SPENCER GASSER vì những khám phá về chức năng biệt hóa cao của các sợi thần kinh đơn.

1943

Giải thưởng được chia đôi, một nửa trao cho HENRIK CARL PETER DAM vì những khám phá về vitamin K, còn nửa kia trao cho EDWARD ADELBERT DOISY vì khám phá về bản chất hóa học của vitamin K.

1942-1940

Tiền thưởng được chia (1/3) cho Quỹ Chính và (2/3) cho Quỹ Đặc biệt của giải thưởng này

1939

Giải được trao cho GERHARD DOMAGK vì những khám phá về tác dụng kháng khuẩn của prontosil. (Chính quyền nước ông từ chối giải thưởng, nhưng sau đó đã nhận bằng và huy chương).

1938

Giải được trao cho CORNEILLE JEAN FRANCOIS HEYMANS vì những khám phá về vai trò của xoang và các cơ chế động mạch trong điều hòa hô hấp.

1937

Giải được trao cho ALBERT SZENT-GYORGYI VON NAGYRAPOLT vì những khám phá liên quan đến các quá trình đốt cháy sinh học, với sự đề cập đặc biệt đến vitamin C và xúc tác của acid fumaric.

1936

Giải được trao cho HENRY HALLET DALE và OTTO LOWEI vì những khám phá liên quan đến dẫn truyền hoá học các xung thần kinh.

1935

Giải được trao cho HANS SPEMAN vì những khám phá về tác động của yếu tố tổ chức trong phát triển phôi.

1934

Giải được trao cho GEORGE HOYT WHIPPLE, GEORGE RICHARD MINOT và WILLIAM PARRY MURPHY vì những khám phá liên quan đến liệu pháp gan trong những ca thiếu máu.

1933

Giải được trao cho THOMAS HUNT MORGAN vì những khám phá liên quan đến vai trò của nhiễm sắc thể trong di truyền.

1932

Giải được trao cho CHARLES SCOTT SHERRINGTON và EDGAR DOUGLAS ADRIAN vì những khám phá về chức nǎng neuron.

1931

Giải được trao cho OTTO HEINRICH WARBURG vì những khám phá về bản chất và mô hình hoạt động của enzym hô hấp.

1930

Giải được trao cho KARL LANDSTEINER vì khám phá của ông về các nhóm máu người.

1929

Giải được chia đôi, một nửa trao cho CHRISTIAAN EIJKMAN vì khám phá của ông về vitamin chống viêm dây thần kinh, còn nửa kia trao cho FREDERICK GƠLAND HOPKINS vì những khám phá về các vitamin kích thích tǎng trưởng.

1928

Giải được trao cho CHARLES JULES HENRI NICOLLE vì sự nghiệp của ông đối với bệnh thương hàn.

1927

Giải được trao cho JULIUS WAGNER-JAUREGG vì khám phá ra giá trị của tiêm chủng sốt rét trong điều trị liệt do sa sút trí tuệ.

1926

Giải được trao cho JOHANNES ANDREAS GRIB FIBIGER vì khám phá của ông về carcinoma Spiroptera.

1925

Tiền thưởng trong nǎm 1925 được nhập vào Quỹ đặc biệt của giải thưởng này.

1924

Giải được trao cho WILLEM EITHOVEN vì khám phá cơ chế điện tim.

1923

Giải được trao cho FREDERICK GRANT BANTING và JOHN JAMES RICHARD MACLEOD vì khám phá ra insulin.

1922

Giải được chia đều giữa ARCHIBALD VIVIIAN HILL vì khám phá liên quan đến sản sinh nhiệt trong cơ, và OTTO FRITZ MEYERHOF vì khám phá ra mối quan hệ cố định giữa tiêu thụ oxy và chuyển hóa acid lactic trong cơ.

1921

Tiền thưởng trong nǎm 1921 được nhập vào Quỹ đặc biệt của giải thưởng này.

1920

Giải được trao cho SCHACK AUGUST STEENBERGER KROCH vì tìm ra cơ chế điều hòa vận động mao mạch.

1919

Giải được trao cho JULES BORDET vì những khám phá liên quan đến miễn dịch

1918-1915

Tiền thưởng trong nǎm 1918-1915 được nhập vào Quỹ đặc biệt của giải thưởng này.

1914

Giải được trao cho ROBERT Bárány vì công trình nghiên cứu sinh lý và bệnh lý của bộ máy tiền đình.

1913

Giải được trao cho CHARLES ROBERT RICHET vì những nghiên cứu của ông về hiện tượng phản vệ.

1912

Giải được trao cho ALEXIS CARREL vì sự nghiệp của ông trong khâu mạch máu, ghép mạch máu và ghép tạng.

1911

Giải được trao cho ALLVAR GULLSTRAND vì những nghiên cứu của ông về khúc xạ của mắt.

1910

Giải được trao cho ALBRECHT KOSSEL để thừa nhận những đóng góp của ông trong lĩnh vực hóa tế bào thông qua những công trình về protein, bao gồm các chất nucleic.

1909

Giải được trao cho EMIL THEODOR KOCHER vì những nghiên cứu của ông về sinh lý, bệnh lý và phẫu thuật tuyến giáp.

1908

Giải được trao cho ILYA ILYICH MECHNIKOV và PAUL EHRLICH để thừa nhận những công trình của họ về miễn dịch.

1907

Giải được trao cho CHARLES LOUIS ALPHONSE LAVERAN vì những công trình của ông về vai trò gây bệnh của các động vật nguyên sinh.

1906

Giải được trao cho CAMILLO GOLGI và SANTIAGO RAMON Y CAJAL vì những công trình của họ về khâu hệ thần kinh.

1905

Giải được trao cho ROBERT KOCH vì những nghiên cứu và khám phá về bệnh lao.

1904

Giải được trao cho IVAN PETROVICH PAVLOV để thừa nhận những công trình của ông về sinh lý tiêu hóa, qua đó đã thay đổi và nâng cao hiểu biết về những khía cạnh sống còn của con người.

1903

Giải được trao cho NIELS RYBERG FINSEN để thừa nhận những đóng góp của ông trong việc điều trị nhiều bệnh, đặc biệt là lupus thông thường, bằng cách chiếu sáng tập trung, nhờ đó ông đã mở ra một kỷ nguyên mới cho y học.

1902

Giải được trao cho RONALD ROSS vì những công trình của ông về sốt rét, nhờ đó ông đã chỉ ra cơ chế xâm nhập của bệnh vào cơ thể, đặt nền móng cho việc nghiên cứu thành công cǎn bệnh này cũng như những biện pháp chống lại bệnh.

1901

Giải được trao cho EMIL ADOLF VON BEHRING vì những công trình của ông về liệu pháp huyết thanh, đặc biệt là ứng dụng trong điều trị bệnh bạch hầu, nhờ đó ông đã mở ra con đường mới trong lĩnh vực y học và trao cho các thầy thuốc một thứ vũ khí mới để chiến thắng bệnh tật và tử vong.

 

backhome.gif (1539 bytes)