logo.gif (23700 bytes)

 

toancanh.gif (81373 bytes)

Lịch sử hình thành cơ sở pháp lý:
Ngày 6 tháng 7 nǎm 1963 Bộ Y tế ra quyết định số 519/BYT - QĐ thành lập Bệnh viện tâm thần Trung Ương 100 giường trực thuộc Bộ Y tế. Tên gọi ban đầu là Bệnh viện Đ.
Nǎm 1965 đổi thành Bệnh viện tinh thần.
Nǎm 1969 đổi thành Bệnh viện tâm thàn Trung Ương.
Ngày 28 tháng 10 nǎm 1976 phó thủ tướng Chính phủ Đỗ Mười ký quyết định số 429/TTg cho xây dựng Bệnh viện Tâm thần TW 500 giường.
.

vientruong.gif (16070 bytes)

Viện trưởng
TS. Trần Vǎn Cường

phovt.gif (13085 bytes)

Phó Viện trưởng
BSCKII. Phạm Đức Thịnh

Một số thành tích:
- Hai huân chương lao động hạng 3 nǎm 1983 và 1993
- Nǎm 2000 Bệnh viện được Bộ Y tế cấp chứng nhận là 1/36 bệnh viện tình thương trong cả nước.
- Các bác sĩ được Chủ tịch nước tặng danh hiệu thầy thuốc ưu tú:
PGS, TS. Nguyễn Đǎng Dung và TS. Trần Vǎn Cường nǎm 1995
TS. Nguyễn Vǎn Siêm và BS. Phạm Đức Thịnh nǎm 1997

bangkhen.gif (57861 bytes)

Chức nǎng, nhiệm vụ:
Theo quyết định số 429/TTg của Phó Thủ tướng Đỗ Mười ký ngày 28/10/1976 với 6 chức nǎng, nhiệm vụ:

1. Khám và điều trị cho những bệnh nhân tâm thần vượt quá khả nǎng của tuyến Tỉnh, Thành phố, và những bệnh nhân thuộc diện Bệnh viện Việt Xô.
2. Nghiên cứu những đề tài khoa học về phòng và chữa bệnh tâm thần theo sự phân công của Bộ Y tế.
3. Là cơ sở thực tập của sinh viên đại học y khoa và là cơ sở bổ túc cán bộ chuyên khoa tâm thần sau đại học của ngành y tế.
4. Là chuyên khoa đầu ngành chỉ đạo tuyến trước và tổ chức chuyên sâu phòng và chữa bệnh tâm thần.
5. Thực hiện giám định tư pháp tâm thần theo yêu cầu của cơ quan pháp luật nhà nước.
6. Đầu mối quan hệ Quốc tế về chuyên khoa tâm thần.


    Đặc biệt ngày 10/10/1998 Thủ tướng Chính phủ Phan Vǎn Khải đã ký Quyết định số 196/1998/QĐ-TTg về bổ sung mục tiêu "Bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng" vào mục tiêu chương trình Quốc gia "Phòng chống một số bệnh xã hội và bệnh dịch nguy hiểm".

    Ngày 2/11/1998 Bộ trưởng Bộ Y tế Đỗ Nguyên Phương đã ký quyết định số 1021/QĐ/BYT về việc giao nhiệm vụ cho Bệnh viện tâm thần TW làm chủ nhiệm chương trình Quốc gia "Mục tiêu bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng".

Lãnh đạo:
Giai đoạn 1963-1969:
Giai đoạn 1969-1973:
Giai đoạn 1973-1980:
Giai đoạn 1980-1997:
Giai đoạn 1997 đến nay:
BS. Trần Đình Xiêm
BS. Phạm Vǎn Đoàn
BS. Lê Duy Kỳ
PGS, TS. Nguyễn Đǎng Dung
TS. Trần Vǎn Cường
Giám đốc
Giám đốc
Giám đốc
Giám đốc
Giám đốc
BSCKII. Thân Vǎn Quang
BSCKII. Phạm Đức Thịnh
Phó giám đốc
Phó giám đốc
Cơ cấu tổ chức:
Khối phòng ban:
- Phòng Hành chính Quản trị
- Phòng Thiết bị vật tư
- Phòng Tài chinh Kế toán
- Phòng Tổ chức cán bộ
- Phòng Chỉ đạo tuyến
- Phòng Y tế điều dưỡng
- Phòng Kế hoạch Tổng hợp
Khối các khoa
- Khoa dược
- Khoa xét nghiệm
- Khoa chẩn đoán hình ảnh và thǎm dò chức nǎng
- Khoa cấp tính nam
- Khoa cấp tính nữ
- Khoa cán bộ nữ và nhi
- Khoa bán cấp tính nữ
- Khoa cán bộ nam
- Khoa bán cấp tính nam
- Khoa mã tính nam
- Khoa Pháp y
- Khoa Đông y: Y học dân tộc
- Khoa phục hồi chức nǎng
- Khoa khám bệnh
- Khoa dinh dưỡng
Các khối khác:
- Tổ vǎn thư
- Tổ kho
- Tổ xe
- Ban bảo vệ
Cán bộ: Tổng số 450 cán bộ công chức

- 2 Tiến sĩ
- 4 Bác sĩ CK cấp II
- 15 Thạc sĩ
- 36 Bác sĩ CK cấp I
- 6 Dược sĩ Đại học (3 dược sĩ CKI)
- 30 Bác sĩ khác
- 10 Cử nhân tâm lý lâm sàng
- 15 Đại học khác
- 180 Y tá điều dưỡng
- 8 Bác sĩ đang làm nghiên cứu sinh
- 5 Bác sĩ đang học cao học
- Số còn lại là cán bộ công chức khác

Trang thiết bị

+ Y tế: Máy XQ: Shimadzu - Nhật Bản, Điện não đồ vi tính, lưu huyết não, điện tim.
- Máy xét nghiệm huyết học, sinh hóa điện tử tự động hóa, máy sắc ký lớp mỏng định chất ma túy, các máy phát hiện HIV/AIDS.
- Máy hỗ trợ thở, máy Electroshock (choáng điện) và các loại máy sản xuất thuốc đông dược.
+ Các loại máy khác: máy phát điện, khai thác sản xuất nước, xử lý nước thải, máy giặt vắt, các loại xe ô tô cứu thương...

Một số thành tích chính:

- Đội ngũ cán bộ ngày một tǎng về số lượng và chất lượng. Nhiều bác sĩ có trình độ học vị cao cũng như trình độ ngoại ngữ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Nga.
- Cơ sở vật chất đã được xây dựng tương đối hoàn thiện từ 1997 có đủ khả nǎng tiếp nhận điều trị nội trú hơn 500 bệnh nhân.
- Trang thiết bị y tế hiện đại, đảm bảo phục vụ trung thực chính xác giúp cho chẩn đoán lâm sàng hiệu quả hơn.
- Hàng nǎm bệnh viện tiếp nhận điều trị nội trú hơn 2500 lượt bệnh nhân và 30.000 lượt khám bệnh. Công suất giường bệnh vượt từ 130-150% mỗi nǎm.
- Bệnh viện đã áp dụng nhiều biện pháp trị liệu cho người bệnh tâm thần: Hóa dược trị liệu với loại thuốc quí, cập nhật; hình thức cửa mở đã áp dụng từ những nǎm 1970. Lao động liệu pháp, phục hồi chức nǎng tâm lý xã hội, liệu pháp tâm lý cá nhân, nhóm, liệu pháp hành vi, liệu pháp choáng điện vẫn hiệu nghiệm.
- Bệnh viện đảm bảo tốt việc cung cấp quần áo, chǎn màn, nước uống, nước sinh hoạt cũng như chế độ ǎn của người bệnh, thuốc men đều được miễn phí cho 2 bệnh nhân xã hội chính là TTPL và động kinh.
- Từ 1976 đến nay đã đào tạo 24 khóa bác sĩ chuyên khoa định hướng (6-10 tháng) với tổng số 550 bác sĩ cho các tỉnh thành phố trong cả nước, và đang đào tạo một lớp bác sĩ CK cấp I có 23 học viên.
- Chỉ đạo tuyến giúp Bộ Y tế hoạch định sách lược phát triển ngành tâm thần. Đến nay cả nước đã có 25 bệnh viện chuyên khoa, 40 bệnh khoa trong bệnh viện đa khoa tỉnh, thành và 42 trạm tâm thần các tỉnh. Mạng lưới điều trị đến tuyến huyện và một phần tuyến xã. Chỉ đạo, triển khai thực hiện chương trình quốc gia "Bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng" đạt hiệu quả tốt ở 43/61 tỉnh thành.
- Nghiên cứu khoa học:
Đã tiến hành điều tra cơ bản các rối loạn tâm thần từ nǎm 1966 đến nay. Nhiều đề tài nghiên cứu sâu: Rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên; chấn thương sọ não do tai nạn giao thông; lạm dụng rượu và chất ma túy; phục hồi chức nǎng tâm lý xã hội cho bệnh nhân TTPL và ĐK tại cộng đồng; Thẩm định bài thuốc cắt cơn nghiện ma túy; nghiên cứu trầm cảm và các thuốc mới. Nghiên cứu các rối loạn tâm thần sau CTSN, do bệnh cơ thể... Tính đến nay đã có hàng 100 đề tài (cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp cơ sở).
- Giám định pháp y tâm thần là trụ sở của tổ chức giám định pháp y tâm thần TW. Hàng nǎm tiến hành được từ 50-60 trường hợp giúp cho các cơ quan pháp luật và luôn đảm bảo tính khoa học trung thực, chính xác.
- Nội san bệnh viện phát hành nǎm 1975, 1976, 1983, 1987 và trong 5 nǎm gần đây đều đặn hàng quý trong nǎm.

 

anhchieu.gif (49439 bytes)

 

 

 

bongban.gif (64383 bytes)

 

Hợp tác Quốc tế

- Từ nǎm 1983 hợp tác với WHO cho đến nay, tổ chức các lớp tập huấn hàng nǎm, cử cán bộ thǎm quan thực tập.
- Nhiều bác sĩ được tu nghiệp ở Liên Xô cũ, cộng hòa dân chủ Đức và học ở CuBa trước 1975. Từ 1990 ở Pháp, Hà Lan, úc. Nǎm 1993 hợp tác kết nghĩa với Bệnh viện Paul Guiraud ở Pháp.
- Trao đổi, hội thảo với hội Tâm thần và tâm lý Pháp Việt từ nǎm 1990 và Hội bác sĩ không biên giới (Pháp 1995); Hội bác sĩ Mỹ Doctor to Doctor (1998); Nhóm bác sỹ NaUy, bác sỹ Bỉ...