III.
CÁC HÌNH PHẠT DO SỬ DỤNG DOPING
Theo
đề nghị của Uỷ ban Olympic Quốc tế, có các
hình phạt như sau:
1.
Nếu sử dụng các steroid đồng hoá, các chất
liên quan đến amphetamin và các chất kích thích
khác, các chất lợi tiểu, các chất phong bế
bê ta, các chất dịu đau ma tuý và các thuốc
ngụy tạo thì:
-
Treo giò thi đấu 2 năm với lần vi phạm đầu
tiên.
-
Cấm thi đấu vĩnh viễn với lần vi phạm
thứ hai.
2.
Nếu sử dụng ephedrin, phenylpropanolamin, codein,
cafein và mọi thứ thuốc cấm hoặc mọi phương
pháp cấm khác (uống làm thuốc ho, hoặc giảm
đau phối hợp với các thuốc chống xung
huyết, hoặc kháng histamin) thì:
-
Treo giò 3 tháng đối với vi phạm lần đầu
tiên.
-
Cấm thi đấu 2 năm nếu vi phạm lần thứ hai.
-
Cấm thi đấu vĩnh viễn nếu vi phạm lần
thứ ba.
Ngoài
việc treo giò thi đấu, còn bị tước lại huy
chương và các danh hiệu thể thao.
Nếu
một vận động viên trong môn thể thao đồng
đội có kiểm nghiệm doping dqơng tính thì toàn
đội có thể bị tước tư cách và tịch thu
huy chương.
Ðối
với mỗi quốc gia và mỗi liên đoàn thể thao
lại có những điều khoản quy định và hình
thức xử phạt riêng đối với những vận động
viên vi phạm Luật chống doping.
Ví
dụ, Luật chống doping số 65 - 412 ngày 1-6-1965
của nước Cộng hoà Pháp như sau:
Ðiều
1.
Sẽ bị phạt từ 500 đến 5.000F với người nào
trong thi đấu thể thao đã cố ý dùng một
trong những chất cấm nhằm tăng một cách nhân
tạo và tạm thời những khả năng thể chất
và có hại đến sức khoẻ.
Ðiều
2.
Sẽ bị phạt tù từ 1 tháng đến 1 năm và
phạt tiền từ 500 đến 3.000F, hoặc một trong
hai hình phạt này với người nào bằng bất
kỳ biện pháp nào cố ý làm cho vận động viên
vi phạm Ðiều 1.
Ðiều
3.
Những nhà chức trách tư pháp hoặc an ninh tư
pháp có thể theo đề nghị của bác sĩ y học
thể thao cho phép kiểm tra vận động viên tình
nghi vi phạm Ðiều 1. Nếu chống lại việc
kiểm tra này sẽ bị phạt theo luật pháp.
Ðiều
4.
Cùng với các hình phạt trên, có thể bị
cấm thi đấu, cấm tham gia Ban Tổ chức, hoặc
mọi công việc khác trong một thời gian từ 3
tháng đến 5 năm, hoặc vĩnh viễn.
Ðiều
luật này phải được thi hành như luật pháp
nhà nước.
Paris
ngày 1-6-1965
Ký
tên: Tổng thống nước Cộng hoà Pháp
Thủ
tướng nước Cộng hoà Pháp
Bộ
trưởng Bộ Tư pháp
Bộ
trưởng Bộ Nội vụ
Bộ
trưởng Bộ Giáo dục
Bộ
trưởng Bộ Y tế
Ngày
20-6-1966, Bộ trưởng Bộ Thanh niên và Thể thao Pháp đã gửi
Thông tri cho các cơ quan ngang, dọc để giải thích và hướng
dẫn thi hành các điều luật trên.
Ở
Mỹ, ngoài những đạo luật chung về chống doping còn có
những đạo luật riêng về việc lạm dụng một thứ thuốc nào
đó. Ví dụ, Trong Bộ luật chống doping năm 1988 có thêm Ðiều
303 về "Cấm phân phối và sử dụng steroid đồng hoá".
Ðiều khoản quy định: những ai bị kết tội phân phối các
thuốc steroid đồng hoá không hợp lý phải chịu phạt tù tới
3 năm nếu thuốc được phân phối cho người trên 18 tuổi;
nếu thuốc được phân phối cho người dưới 18 tuổi thì
phải chịu phạt tù tới 6 năm. Ngoài ra những người vi phạm
đều có thể bị tước bằng và tịch thu toàn bộ tài sản có
được nhờ món lợi do phân phối bất hợp pháp các steroid đồng
hoá.
Ngày
27-6-1991 tại Philadenphia, Ban Hội thẩm Liên bang của Mỹ đã
kết án bác sĩ George Zahorian về tội kê đơn và bán thuốc
steroid đồng hoá cho 4 vận động viên vật chuyên nghiệp là
Brian Blair, Roddi và Dan Spivey. Với tội danh trên, theo Luật
chống doping của Mỹ năm 1988, bác sĩ Zahorian, 43 tuổi phải
chịu 44 năm ngồi tù cùng số tiền nộp phạt là 3 triệu đô
la.
Ngày
13-10-1990, Liên đoàn Bóng đá Italia đã kỷ luật 2 cầu thủ có
tên tuổi của AS Roma là Andrea Carnovale và Angelo Penizzi. Họ bị
treo giò 12 tháng vì bị phát hiện có sử dụng chất amphetamin,
fentermin.
Một
sự kiện nữa cũng rất đáng chú ý là ngày 6-4-1991, Uỷ ban
Kỷ luật của Liên đoàn Bóng đá Itaha đã họp tại thành
phố Milan, quyết định treo giò 15 tháng đối với danh thủ bóng
đá thế giới D. Maradona, do bị phát hiện đã sử dụng chất
kích thích cocain trước một trận đấu của Giải Vô địch
Italia hồi tháng 3-1991. Có lẽ đây không phải là lần thứ
nhất Maradona lạm dụng doping.
|