Chống Dopping / Dinh dưỡng TT / Chấn thương trong TT

Dinh dưỡng trong thể thao

PHẦN 3: DOPING TRONG THỂ THAO

II. PHÂN TÍCH HÓA-SINH HỌC NƯỚC TIỂU

1. Lấy mẫu nước tiểu

Thường chỉ những vận động viên giành được huy chương, tuy nhiên tất cả các vận động viên khác không giành được huy chương nếu có những biểu hiện sử dụng doping cũng có thể "được mời" đi kiểm tra doping. Vận động viên "được mời" phải có trách nhiệm chấp hành, nếu không chấp hành thì xem như vận động viên đó đã sử dụng doping.

Trong khoảng thời gian 1 giờ sau khi thi đấu, nhân viên kiểm tra doping cùng giới sẽ chứng kiến việc lấy nước tiểu vận động viên. Lượng nước tiểu cần thiết để tiến hành kiểm nghiệm là khoảng 100ml. Nếu lượng nước tiểu chưa đủ, hoặc vận động viên khát thì chỉ được uống thứ nước do nhân viên kiểm tra doping cung cấp. Chớ nên tự ý uống nước của mình.

Nước tiểu được rót vào 2 lọ. Một lọ đề mẫu A, lọ kia - mẫu B. Trên lọ có ghi tên vận động viên và mã số kiểm nghiệm, sau đó gắn xi và để trong công-ten-nơ bảo đảm. Tiếp đó nhân viên kiểm tra doping lập phiếu kiểm nghiệm và ký vào đó.

Cả hai mẫu A và B được gửi tới một phòng kiểm nghiệm doping được IOC công nhận. Nếu là cuộc thi đấu trong nước thì phòng kiểm nghiệm doping do Uỷ ban Olympic Quốc gia công nhận.

Ðầu tiên người ta kiểm nghiệm mẫu A. Nếu kết quả là âm tính tức là không có việc sử dụng doping. Nếu kết quả là dương tính phòng kiểm nghiệm sẽ lập phiếu báo cáo lên Ban tổ chức thi đấu biết để quyết định hình thức xử phạt.

Nếu vận động viên kháng cáo thì phòng kiểm nghiệm doping sẽ mời vận động viên đó và người phụ trách (có thể là huấn luyện viên hoặc bác sĩ của đội...) chứng kiến tận mắt việc kiểm nghiệm mẫu nước tiểu trong lọ B. Việc phân tích lần này lại do một nhóm kỹ thuật viên khác hoặc phòng kiểm nghiệm khác tiến hành để đảm bảo độ chính xác và tính khách quan trong việc kiểm nghiệm. Kinh phí cho việc kiểm nghiệm mẫu B do phía vận động viên kháng cáo trả.

Nếu kết quả kiểm nghiệm mẫu B vẫn dương tính thì chắc chắn vận động viên đó đã sử dụng doping.

2. Phân tích hoá-sinh học

Phân tích hoá-sinh học doping là một lĩnh vực rất phức tạp và không chỉ gồm những phương pháp hiện đại, mà cả khả năng thực thi của nhiều môn khoa học khác nữa. Thí dụ, phân tích độc chất học, pháp y học, dược động lực học... Chất lượng sinh học để phân tích là nước tiểu. Mẫu nước tiểu phải có trọng lượng riêng là 1,010 và pH thấp hơn 7,5. Nếu nước tiểu kiềm - pH lớn hơn và trọng lượng riêng nhỏ hơn 1,010 thì vận động viên phải lưu tại chỗ cho đến khi lấy được một mẫu có thể chấp nhận. Một khó khăn của kỹ thuật phân tích là dò tìm nhiều yếu tố doping với một nồng độ rất thấp. Với những chất kích thích và chất dịu đau ma tuý, giới hạn dò tìm xuống tới hàng ppa (mg/ml = 10-6g/ml) và với steroid đồng hoá là vào hàng ppb (mg/ml = 10-9g/ml).

Phương pháp thường dùng để phân tích doping hiện nay là chiếu lên màn hình những mẫu nước tiểu bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng. Với những cột mao dẫn dung giải cao trong một máy sắc ký chạy dọc, hàng trăm chất có thể bị phân tích và sơ bộ được xác định bởi thời gian lưu giữ của chúng.

Những nét đặc trưng của phương pháp này là:

- Chiết xuất ete kiềm;

- Bơm chất được chiết xuất vào cột ghi sắc khí;

- Ghi sắc ký ở các nhiệt dộ đã định sẵn (chương trình hoá) để rút ngắn việc phân tích và làm tăng giới hạn dò tìm đối với những chất thời gian lưu giữ dài;

- Dùng một chất dò tìm nitơ đặc hiệu để làm giảm nền sinh học và tăng độ nhạy đối với các hợp chất nitơ hữu cơ;

- Ghi thời gian lưu giữ và những cường độ báo hiệu bằng một máy tính.

Bảng 19. Bảng tổng quát các phương phápphân tích doping nước tiểu

Xếp loại hóa học hoặc sinh hóa học

Điều chế mẫu

Phương pháp phân tích

Thủy phân

Chiết xuất

Dẫn xuất hóa

Kỹ thuật phân tích

Kỹ thuật dò tìm

Độ nhạy

- Hợp chất chứa nitơ và bài thải tự do trong nước tiểu như amphetamin, ephedrin

không

ete

không

GLC

N-FID

100

- Hợp chất chứa nitơ bài thải dưới dạng kết hợp với sunfat hoặc axit glucuronic, như chất phong bế bêta, mocphin.

ete + rượu

có TMS/TFA

GLC

N-FID/MS

10

- Chất kích thích có cơ cấu và đặc tính hóa học đặc biệt như pemoline, cafein.

không

etyl axetat

không

HPLC

UV/VIS MS

100

- Steroid đồng hóa

 

GLC

MS

1

+ Bài thải tự do (oxandrolon)

không

XAD2/ete

TMS/HFB

GLC

MS

1

+ Bài thải dưới dạng kết hợp (nandrolon, testosteron)

XAD2/ete

TMS

GLC

MS

1

- Hợp chất có tính axit như phần lớn các chất lợi tiểu (furosemid, axit etacrynic)

không

ete

có CH3

GLC/HPLC

UV/VIS MS

10

Chú thích:

MS: đo phổ khối;

CH3: nhóm metyl;

GLC: ghi sắc chất lỏng hoá khí;

N-FID: chất dò tìm nitơ đặc hiệu;

TFA: nhóm trifluoroaxetyl;

HFB: nhóm heptafluorobutyryl;

TMS: nhóm trimetylsilyl;

HPLC: ghi sắc chất lỏng áp suất cao;

XAD2: 1polymerit hút bám;

UV/VIS: tia cực tím / quang phổ hấp thu mắt thấy.

Dựa theo những nguyên tắc đã phác ra ở trên, việc đánh giá là đáng tin cậy (Donike và cộng sự, 1985).

Các phương pháp phân tích doping được tóm tắt trong Bảng tổng quát (bảng 19).

Nến lần phân tích đầu tiên, nước tiểu gợi lên khả năng hiện diện một chất bị cấm, hoặc chất chuyển hoá, hoặc một chất cùng họ thì sẽ tiếp tục phân tích bằng nhiều phương pháp tinh vi hơn. Với thông tin của lần phân tích thứ nhất, việc điều chế mẫu có thể được biến cải để làm tăng độ nhạy và tăng tính đặc hiệu.

Sự nhận dạng cuối cùng sẽ được thực hiện bằng cách đối chiếu. Những chất đối chiếu này có thể là những tác nhân thuần chất, hoặc nếu phải nhận dạng những chất chuyển hoá thì đó là nước tiểu của những người tình nguyện dùng chất doping. Người ta chỉ xác nhận một kết quả là dương tính nếu tài liệu ghi sắc ký và đo phổ khối của nhiều mẫu khả nghi ứng với chất đối chiếu.

3. Những phòng kiểm nghiệm doping được IOC công nhận chính thức

Năm 1980 Hội đồng Y học thuộc IOC chiếu theo đề nghị của Hội đồng Y học thuộc Liên đoàn Ðiền kinh Quốc tế nghiệp dư (IAAF) lập ra những phòng kiểm nghiệm được chính thức công nhận để đảm bảo tính chính xác cao về kết quả kiểm nghiệm.

Những điều kiện cần thiết để được chính thức công nhận là phải kiểm tra năng lực của các phòng kiểm nghiệm, cân đối và tiêu chuẩn hoá chất lượng các phương pháp phân tích. Người ta biết rất rõ rằng, giới hạn của việc dò tìm và tổng số các chất bị cấm có thể cách nhau rất xa giữa các phòng thí nghiệm cùng làm chung một nhiệm vụ. Muốn có những kết quả có thể so sánh được cần phải có những cố gắng lớn để đạt mức kiểm nghiệm thành thạo. Những điều kiện cần thiết cho một phòng kiểm nghiệm doping phải có là:

- Trang thiết bị phân tích chính xác;

- Các phương pháp phân tích đã được công nhận;

- Kỹ thuật kiểm nghiệm thành thạo đã được kiểm tra.

Cho đến năm 1990 đã có 21 phòng kiểm nghiệm doping đã được IOC công nhận (theo Olympic Reviews 9-10/1990):

1/ Institute Municipal d'Investigacio Medica, Department di Ferma-cologia i Toxicologia (Barcelona, ESP).

Chủ nlliệm: Pr. Jordi Segra.

Ðịa chỉ: P. Marritim s/n, 08003 Barcelona.

Tel.: (34.3) 300 75 62.

2/ Doping Control Laboratory. Pr.Dr.Zeyi Yang.

National Research Institute of Sports Medicine, 11 Tiyuguan Road, Beijing (Chine).

Pr. Dr. Tong Hui Zhou; Tel.: (861) 5112233.

3/ Institute of Biochemistry Deutsche Sportbochschule (FRG). Carl Diem Weg 6, RFA 5000 Cologne 41.

Pr. Dr. Manfred Donike; Tel.: (051) 933521.

4/ United Laboratories Ltd. Helsinki (Fin) P.O.BOX 70-00511 Helsinki 51.

Pr. Kimmo Kuoppasalmi; Tel. : (358.0) 506051 (Loại Phase I).

5/ Department of Clinical Chemistry. Kliniskt Karolina Institute Farmakologista Laboratoriet Suede. Huddinge Sjukhus. 141 86 Huddinge (SUE).

Dr. Ingermar Bjorkhem. Tel.: (46.8) 746 10 00.

6/ Department of Pathology, School of Medicine, Indiana University Medical, Etat Unis Centre. 926 West Michigan Street, Indianapolis/indiana 46223.

Dr. Carlton Nordschow (USA). Tel.: (1317) 274 48 06.

7/ Central institute des Sportmedizinnischen (GDR). Dienstes, August Bobel Strasse 12, GDR. 8216 Kreischa.

Dr. Claus Clausnitzer. Tel.: (37 . 5196) 3308.

8/ Laboratorio de analises de doping o bioquimica. Direcca - geral dos desportos. Estadio Universitario (POR). Av. Professor Egas Moniz, 1600 LISBOA.

Dr. Lesseps Lourenco Reys. Tel.: (35 . 1) 760245.

9/ Drug Control and Teaching Centre, London University, Kings College, Manresa Road, LONDRES SW 3 6 LX Angleterre LONDRES (GER).

Dr. Davis Cowan. Tel.: (44 . 71) 351 24 88;

(44 . 71) 352 38 38.

10/ Olympic Analytical Laboratory, Department of Pharmacology, UCLA School of Medicine, Etats-Unis 650, South Circle Drive Room chính sách 23 - 133 Los Angeles, Californie 90024 - 1735.

Dr. Don H. Catlinucla (USA). Tel. : (1 213) 825 2789.

1 1/ Laboratorio Investigacion Bio-quimica y control-anti-doping, Consejo Superior de Deportes, c/Grecc, S/N. Cuidad Espana Universitaria, 28040 Madrid (ESP).

Dr. Cecilia Rodrigues. Tel.: (34 . 1) 2437290.

12/ INRS-Sante, Institute National de la Recherche Scientifique, Universite du Quebec, 245 Blvd. Hymus, Pointe-Claire, Quebec H9R 1G6 (CAN).

Pr. Robert Dugal, directeur, Pr. Robert Masse directeur adjoint.

Tel. : (1 514) 630 8800.

13/ Moscow Dopo Control Laboratory Anti-doping, Kasanova 18. URSS Moscow (URS).

Pr. Vitaly Semenov. Tel. : (7095) 261 27 76 (loại Phase II).

14/ Hormono Laboratory, Sections for Doping Analysis, Aker Hospital

N-0514 OSLO 5, Norvegr OSLO.

Dr. Peter Hemmorsbach, dirocteur scientifique.

Tel. : (47 . 2) 89 47 08 - 22 05 45.

15/ Laboratoire anti-dopaso 143 Avenue Roger Salengro France 92290 Chatenay Malabry.

Pr. Jean Pierre Lafarge. Tel. : (33 . 1) 466 028 69.

16/ Institute of Sports Medicine and Dope Control Laboratory, Spartakindnistadion, 160, 17 Prague 6 Brevnoa, Republique Federale Tcheque et Slovaque.

Dr. R. Slectowa (TCH). Telex. : 122650 CSTV (loại phase II).

17/ Federaziche Medico-sportivo Italiana, Palazzo Delle-Federazioni, Via Tiziano 70, Italio Rome.

Dr. F. Roseti (ITA). Tel. : (39 . 6) 80 30 11.

18/ Doping Control Center Korea Institute of Science and Technology, Republique de Coree P.O. Box 131, Chongryang, Seoul (KOR).

Dr. Jonsei Park - directeur. Tel. : (82 . 2) 553 2947.

19/ Australian Governement Analytical Laboratories 1 Suakin Street, Australie PYMBLE, HSW 2073.

Dr. R. Kazlauskas (AUS). Tel. : (61 . 2) 4490111.

20/ Mitsubishi Yuka Bio-Clinical. Laboratories Inc. MS Division, 3-30-1 Shimura, Itabashi-k. TOKYO 174 (JAP).

Dr: Jun-Ichi Fukuda. Tel. : (81 . 3) 5994 2351 (2).

21/ Netherlands Institute of Drugs and Doping Research, Vondellan 14, Fays Pas 3521 GE UTRECHT (HOL).

Pr. Dr. J.M. Van Rossum. Tel. : (31 30) 885465.

Năm 1986, 18 phòng kiểm nghiệm doping được IOC công nhận đã thực hiện 32.982 lần phân tích nước tiểu. Kết quả có 623 mẫu dương tính, chiếm tỉ lệ 1,9%. Trong những mẫu dương tính ấy có 687 chất bị cấm đã được nhận dạng.

Qua thống kê tần số các chất được nhận dạng chúng ta thấy, vận động viên sử dụng steroid đồng hoá nhiều nhất, sau đó là các chất kích thích. Steroid đồng hoá được sử dụng không phải chỉ trong giai đoạn thi đấu, mà cả trong thời kỳ tập luyện.

Bảng 20. Tần số các chất được nhận dạng

Các chất được nhận dạng

Mẫu

1. Steroid đồng hóa

439 mẫu

2. Các chất kích thích

177 -

3. Các chất phong bế bêta

31 -

4. Các chất dịu đau ma túy

23 -

5. Thuốc giảm đau

15 -

6. Chất lợi tiểu

2 -

Năm 1989, giữa hai Uỷ ban Olympic Quốc gia Liên Xô và Mỹ đã ký Hiệp định về kiểm nghiệm doping, trong đó có điều khoản sẽ tiến hành kiểm tra doping ngay cả trong quá trình tập luyện, mà chất chủ yếu cần phát hiện cũng là steroid đồng hoá. Riêng đối với doping-máu thì chưa có những kỹ thuật phân tích đáng tin cậy.