II.
CÁC NHÓM CHẤT VÀ BIỆN PHÁP DOPING
Liên
đoàn Y học thể thao Thế giới đã công bố
danh sách các nhóm chất và các biện pháp
doping dưới đây bị cấm sử dụng cho vận động
viên trong tập luyện và thi đấu thể thao (xem
Phụ lục).
Các
nhóm chất bị cấm sử dụng:
-
Nhóm chất kích thích (stimulants);
-
Nhóm chất dịu đau ma tuý (narcotics analgesics);
-
Nhóm steroid đồng hoá (anabolic steroids);
-
Nhóm chất phong bế bêta (beta-blockers);
-
Nhóm chất lợi tiểu (diuretics);
-
Các hocmon peptit và chất tương tự (peptide
hormones and analogues).
Các
biện pháp doping bị cấm:
-
Doping máu (blood doping);
-
Biến đổi nước tiểu về dược lý học
(pharmacological), về hoá học (chemical), hoặc
vật lý (physical).
Các
chất hạn chế sử dụng:
-
Rượu (alcohol);
-
Cần sa (marijuana);
-
Các chất gây tê tại chỗ (local anesthetics);
-
Các corticosteroid.
1.
Các nhóm chất bị cấm sử dụng
a.
Nhóm các chất kích thích
Các
chất kích thích bao gồm nhiều thứ thuốc làm
tăng sự tỉnh táo, giảm mệt mỏi và làm tăng
tính đối kháng.
Các
chất này bị cấm vì chúng có thể gây kích
thích cả về tâm lý và thể lực do đó có
thể có lợi thế trong thi đấu. Ngoài ra chúng
có những tác dụng có hại cho cơ thể.
Những
dấu hiệu thực thể có thể quan sát thấy khi
sử dụng chất kích thích là: giãn
đồng tử, tăng đổ mồ hôi, thái độ bồn
chồn, lo lắng, có thể có hành vi của bệnh tâm
thần dạng paranoa (paranoid behavior) biểu hiện
bằng các triệu chứng như hoang tưởng, nhiều
ảo giác phát triển dần đến sự nghèo trí
tuệ, suy sụp tâm thần...
Những
tác dụng tâm lý phụ có thể xảy ra khi sử
dụng chất kích thích là: tăng
tần số tim và tăng huyết áp, rối loạn
nhịp tim dẫn đến ngừng tim, có nguy cơ chảy
máu não (đột quỵ-stroke), mất nước và
giảm sút tuần hoàn.
Cần
chú ý là các chất kích thích cũng có trong
nhiều loại thuốc thường dùng. Một nhóm các
chất kích thích là các amin giống giao cảm
(symp-thomimetics amines), bao gồm ephedrin và các
dẫn xuất (pseudoephedrin, phenyl-propanolamin,
norpseudoephedrin), thường gặp trong các thuốc
chữa sốt hoặc cảm lạnh, dùng để làm
thuốc giảm xung huyết. Các thuốc này rất
dễ kiếm và thông dụng, nên thầy thuốc và
vận động viên cần hết sức cẩn thận để
khỏi vô tình dùng phải chất cấm.
Trong
nhóm chất kích thích thì amphetamin và các dẫn
xuất của nó là những chất được sử dụng
nhiều nhất, sau đó đến cafein và cocain.
AMPHETAMIN
Danh
pháp hoá học của amphetamin là
amino-2phenyl-1propan sulfat. Amphetamin thuộc nhóm
thuốc độc bảng B.
Các
amphetamin là những chất kích thích, bao gồm ba
thứ thuốc liên quan rất mật thiết là
amphetamin, dextroamphetamin và me thamphetamin.
Trong
lâm sàng các thuốc nhóm amphetamin (benzedrin,
phenamin, psychedrin...) thường được dùng với
công dụng làm cho tỉnh táo, tăng khả năng làm
việc trí óc (tạm thời). Chủ yếu dùng điều
trị chứng ngủ rũ (narcolepsie), ngộ độc do
thuốc mê, thuốc ngủ và rối loạn chức
phận não nhẹ ở trẻ em.
Trong
thể thao, amphetamin tạo cho vận động viên
cảm giác giảm mệt mỏi, tăng tính hưng
phấn, sự thù nghịch và do vậy tăng cả tính
đua tranh. Phối hợp các loại thuốc amphetamin
với nhau sẽ sạo ra một cảm giác giả về tăng
khả năng vận động và có thể làm mất óc
phán đoán. Điều đó dễ dẫn đến những tai
nạn cho bản thân vận động viên và cho cả
người khác (Puffer, 1986).
Amphetamin
được các vận động viên dùng nhiều còn vì
chúng được gán cho công dụng tạo ra sự
chịu đựng bền bỉ và sự mau lẹ (Burks,
1981). Trong thời gian những năm 60 và 70,
amphetamin xuất hiện như một bệnh dịch trong
làng bóng đá, nhất là bóng đá nhà nghề
(Bell và Doege, 1986).
Amphetamin
che dấu sự đau đớn khi xảy ra chấn thương,
do đó làm cho chấn thương càng thêm nghiêm
trọng.
Mệt
mỏi là tín hiệu có tính chất bảo vệ, dùng
amphetamin làm giảm bớt cảm giác mệt mỏi vì
thế nó đẩy các chức năng cơ thể vào
trạng thái làm việc quá ngưỡng. Hậu quả là,
nhẹ nhất cũng gây nên các rối loạn chức năng
và không ít trường hợp đã gây nên cái
chết đột tử do truỵ tim mạch.
Amphetamin
còn có thể gây ra chứng rối loạn tâm thần
thể hoang tưởng, làm rối loạn điều hoà thân
nhiệt.
Tác
dụng phụ lâu dài của amphetamin là thiếu dinh
dưỡng, rối loạn dinh dưỡng da, loét, thiếu
vitamin, thiếu ngủ, chán ăn, sút cân, trầm
cảm, tổn thương não, rối loạn nói và suy
nghĩ, tổn thương thận, cơn tim và đột quị.
Về
hiệu quả của amphetamin với thành tích thể
thao cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Một số
tác giả cho rằng, nó có tác dụng tăng thành
tích thể thao từ 1-4% (Cooper, 1972; Laties và
Weiss, 1981). Một số tác giả khác lại phủ định
hiệu quả làm tăng thành tích thể thao của
amphetamin (Chandler và Blair, 1980).
Khi
sử dụng amphetamin cần biết một điều nữa
là, nết dùng thường xuyên thì lại phải
cần đến những liều lượng cao hơn để có
được cùng một tác dụng. Với liều lượng
cao thì tác dụng sinh lý phụ càng nhiều hơn và
nguy cơ xảy ra càng nghiêm trọng hơn.
CAFEIN
Ðây
cũng là chất kích thích được vận động viên
sử dụng khá nhiều. Cafein có thể tìm thấy
trong chè, cà phê, ca cao và những chế phẩm có
trong các thuốc chống cảm lạnh. Hiệu quả
của cafein phụ thuộc rất nhiều vào liều lượng.
Số lượng trung bình cafein trong một tách cà
phê (phin) xấp xỉ 100-150mg, còn trong chè có
từ 30-75mg cafein.
Với
liều thấp, tức là dưới 500mg, cafein không
thể hiện độc tính. Trên mức đó cafein có
thể đẩy nhanh sự chuyển hoá, làm tăng thân
nhiệt, huyết áp và tăng tỉ lệ đường
huyết. Cafein cũng có thể gây ra sự mất
phối hợp trong
vận động, giảm ngon miệng và với liều cao
có thể gây buồn nôn, tiêu chảy, mất ngủ,
run, đau đầu và bồn chồn. Với liều cao trên
1.000mg đã thấy nói đến đột quỵ và tử
vong.
Liên
đoàn Y học thể thao thuộc IOC năm 1984 đã quy
định giới hạn cho cafein là 15mcg/ml nước
tiểu. Ðến tháng 4 năm 1986 giới hạn đó thu
hẹp lại đến 12mcg/ml nước tiểu. Quá giới
hạn cafein quy định trên là vi phạm Iuật
chống doping.
Kinh
nghiệm cho biết, nếu uống 6-8 tách cà phê
một lúc và bị kiểm nghiệm sau 2-3 giờ thì
kết quả kiểm nghiệm sẽ là dương tính.
Có
một số thuốc chữa bệnh có chứa cafein như
mildol, anacin, empirin và một số thuốc khác. Ðiều
này được trình bày rõ trong phần Phụ lục.
Ý
kiến về việc sử dụng cafein làm tăng thành
tích thể thao theo Costill và Fink thì chủ yếu
là do có liên quan đến "tác dụng tâm lý".
COCAIN
Cocain
là chất kích thích hệ thần kinh trung ương.
Vận động viên, nhất là vận động viên nhà
nghề rất hay dùng. Vận động viên dùng cocain
vì hiệu quả kích thích của nó và vì cả
khả năng che dấu đau đớn. Cả hai đều có
thể gây hại.
Khi
cocain được hít vào, hiệu quả xuất hiện
trong vòng vài phút, đạt đỉnh cao trong vòng
15-20 phút và mất đi trong khoảng 1 giờ (Viện
Quốc gia về lạm dụng thuốc - Mỹ, 1986).
Nếu tiêm cocain phải mất khoảng 15 giây để
tới được não, còn loại cờ-rắc (crack)
chỉ mất 7 giây (Cooper, 1986).
Cocain
được sử dụng dưới dạng tự do, hoặc được
hút như cờ-rắc đều làm tăng nhịp tim, tăng
huyết áp, tăng nhịp thở và tăng thân nhiệt.
Ðồng tử có thể bị giãn và người dùng
thuốc cũng có thể bị chảy nước mũi hay
ngạt mũi. Hít cocain lâu dài có thể dẫn đến
loét niêm mạc mũi gây kích động, kích ứng,
thay đổi cá tính, rối loạn tâm thần và dễ
va chạm trong giao tiếp giữa con người (Bell và
Doege, 1986).
Cờ
rắc được điều chế bằng cách đun nóng
cocain với soda khô và nước, sau đó làm khô
hỗn hợp và "cracking" (cắt) thành
những mẩu nhỏ. Cờ-rắc thường được hút
qua điếu thủy tinh. Cờ-rắc là một dạng
cocain rất dễ nghiện, chỉ mấy giây đồng
hồ sau khi hút đã đưa đến những cảm giác
cao mãnh liệt, sau đó giảm dần, người dùng
rất thèm thuốc.
b.
Nhóm các chất dịu đau ma tuý
Vận
động viên thường sử dụng chất dịu đau ma
tuý vì nó gây cho người dùng một
cảm giác sảng khoái hoặc kích thích tâm
lý (tạm thời), mặt khác nó còn làm tăng ngưỡng
đau. Song, mặt trái của các tác dụng này là
nó làm cho vận động viên có cảm giác sai
lạc về sự vô địch, một ảo tưởng về giá
trị vượt ra ngoài khả năng thực sự của
bản thân. Nó tạo cho người dùng cảm giác
bay bổng như người nghiện ma tuý. Còn tác
hại nguy hiểm của việc tăng ngưỡng đau là
làm cho vận động viên không nhận ra chấn thương,
do đó dẫn tới chấn thương nặng hơn.
Các
thuốc dịu đau ma tuý còn có tác dụng phụ
rất nghiêm trọng là ức chế hô hấp nếu dùng
quá liều lượng và làm giảm thể lực, tâm
thần suy sụp. Các thuốc này còn gây nghiện.
Vì
vậy người ta đã nói rằng: "Tác động tích
cực trên thành tích thi đấu bị át đi nhiều
bởi những tác động có hại đến sức
khoẻ, kể cả thói nghiện ngập do sử dụng các
chất dịu đau ma tuý." (Bell và Doege, 1986).
Đại
biểu cho các chất dịu đau ma tuý là morphin và
các chất tương tự về hóa học và dược lý
học. Một số thí dụ về các chất dịu đau
ma túy được liệt kê ở phần Phụ lục.
Trong
nhóm các chất dịu đau ma tuý phải nhấn
mạnh tới một chất nữa cũng thường được
vận động viên sử dụng, đó là heroin. Với
bất kỳ lý do gì dùng heroin đều là bất
hợp pháp.
Heroin
rất dễ nghiện và rất nguy hiểm. Dùng heroin
ngắn hạn thì bồn chồn, buồn nôn, chảy nước
mắt, xổ mũi, mất ngủ, kích ứng, run, ăn
mất ngon và gây nôn mửa. Các tác động khác
có thể là co cứng dạ dày và ỉa chảy, tăng
nhịp tim và huyết áp, rét run rồi nóng hoặc
vã mồ hôi, đau cơ và co thắt cơ. Dùng heroin
và các chất thuốc phiện khác kéo dài có
thể gây bệnh màng tim và van tim, xung huyết
phổi và áp-xe da. Dùng heroin liều cao có thể
làm chậm nhịp thở đến mức gây tử vong. Dùng
heroin phải tiêm nên có thể gây ra các bệnh
nhiễm khuẩn. Ðặc biệt nếu dùng lại hoặc
dùng chung kim tiêm thì việc sử dụng heroin có
thể dẫn tới viêm gan, nhiễm trùng máu hoặc
nhiễm HIV/AIDS.
Do
việc lạm dụng các chất dịu đau ma tuý trong
vận động viên ngày càng tăng, Hội đồng Y
học thể thao thuộc IOC đã công bố lệnh
cấm sử dụng các chất đó. Lệnh cấm này đã
được nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thừa nhận và
khuyến nghị. Ðặc biệt đối với việc lưu
hành và sử dụng heroin không những bị cấm mà
còn là phi pháp.
Nếu
vận động viên cần sử dụng thuốc giảm đau
khi chấn thương thì có thể điều trị có
hiệu quả bằng cách dùng một số thuốc khác
không phải ma tuý. Các thuốc này thường là các
thuốc chống viêm không phải steroid, có tác
dụng chống viêm và giảm thống (dịu đau).
Một số thuốc thay thế có thể dùng để điều
trị các chấn thương thể thao như:
-
Các dẫn chất axit anthranilic như megenamic axit
(ponstel), floctagemin (idalon), glagemin (gilfanan)...
-
Các dẫn xuất axit phenylakanoic như diclofenac
(voltaren), ibuprofen (advil, motrim), ketoprofen
(orudis), naproxen (anaprox)...
-
Các hợp chất như indomethacin (indocin) và
sulindac (chnoril).
-
Aspirin và một số dẫn xuất mới như
diflunisal (dolobid). Tuy nhiên cần cẩn thận
với các hợp chất của aspirin, vì nó có
chứa cả codein, cafein hoặc các chất cấm khác.
c.
Nhóm các chất steroid đồng hoá
Việc
sử dụng và lạm dụng steroid đồng hoá là
một trong những chủ đề được tranh luận
nhiều nhất hiện nay. Vận động viên thường
tìm đến những chất này như "món án sáng
của các nhà vô địch" (breakfast of
champions). Điều đó chứng tỏ việc sử dụng
chúng là hết sức phổ biến trong vận động
viên.
Steroid
đồng hoá được phân lập lần đầu vào
những năm 30 của thế kỷ này và được
chứng minh là có hiệu quả đồng hoá (phát
triển cơ bắp). Chúng được dùng để tạo ra
sự cân bằng hoàn toàn ni tơ trong cơ thể
nạn nhân bị đói ở cuộc Ðại chiến Thế
giới lần thứ hai (Bergman và Leach, 1984).
Các
steroid đồng hoá là dẫn xuất của testosteron
(hocmon nam), đã được phát hiện trong những năm
50. Người ta đã cố gắng làm giảm tác dụng
hocmon nam của testosteron và chỉ duy trì tác
dụng đồng hoá để tạo ra một thứ thuốc
nhằm "cải lão hoàn đồng" (Haupt và
Rovere, 1984). Nhưng điều đó đã và sẽ không
bao giờ có được kết quả.
Tiếp
theo những cố gắng ấy, Zeigler đã cho ra thị
trường một loại steroid đồng hoá bớt nam tính
hơn testosteron, dó là thuốc dianabol. Song việc
dùng steroid đồng hoá như dianabol cũng đã bị
đưa vào danh sách các chất cấm ở Đại hội
Olympic Mùa Hè ở Montreal (Bergman và Leach, 1984).
Còn như trường hợp testosteron - hocmon sinh ra
tự nhiên, do khó phân biệt nó với số lượng
testosteron ngoại lai nên đã không nằm trong
danh sách bị
cấm trước Ðại hội Olympic 1984 (Puffer, 1986).
Mặc dù kiểm nghiệm thuốc đã được tiến hành
từ lâu, song chỉ gần đây thôi việc dò tìm
steroid đồng hoá và testosteron đã trở thành
chắc chắn do có thêm phương pháp ghi khí màu
(gas chromotography) và phép phân tích quang trắc
phổ khối (mass spectometry analysis).
Trong
lâm sàng, người ta dùng testosteron để điều
trị trong các trường hợp:
-
Ở nam giới: giảm năng tuyến sinh dục - như
nhi tính nam, chứng vô sinh, xuất tinh sớm,
liệt dương và lão suy nam; trạng thái trầm
cảm ở người đứng tuổi kèm giảm khả năng
lao động trí óc, chứng loãng xương và xương
gãy chậm lành.
-
Ở phụ nữ: lãnh đạm nữ dục, phối hợp
với progesteron để điều trị một số rối
loạn do tăng tiết foliculin như chứng đa kinh
hoặc rong kinh cơ năng, rối loạn tuổi mãn
kinh (chỉ dùng cho phụ nữ đã bị ung thư vú
hoặc bộ phận sinh dục).
Việc
sử dụng testosteron và các steroid đồng hoá
với mục đích chữa bệnh phải được các
thầy thuốc có kinh nghiệm kê đơn và theo dõi
một cách nghiêm ngặt. Vì dùng với liều cao và
dài ngày rất dễ gây nên các tác dụng phụ
nguy hiểm tới sức khoẻ và tính mạng.
Trong
thể thao người ta sử dụng steroid đồng hoá
vì cho rằng nó tăng cường sự tổng hợp
protein, mà chất này thì cùng với sự luyện
tập có thể tăng cường khối lượng cơ
bắp, do đó tăng sức mạnh và sự bền bỉ.
Một số ý kiến khác cho rằng, vận động viên
sử dụng steroid đồng hoá sẽ tăng tính ganh
đua và rút ngắn được thời gian hồi phục
sau tập luyện và thi đấu.
Vận
động viên nhiều môn thể thao đã lạm dụng
steroid đồng hoá, nhất là ở những môn thể
thao cường sức" (strength sports) - như bóng
đá, vật, cử tạ, một vài môn của điền
kinh. Ngoài ra các vận động viên bơi lội, đua
xe đạp cũng hay sử dụng steroid đồng hoá.
Một số vận động viên thể dục thể hình cũng
dùng steroid đồng hoá nhằm làm cho cơ thể thêm
đô".
Nhưng
nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, mặc dù
steroid đồng hoá có thể làm tăng khối lượng
cơ bắp, nhưng cơ bắp được tạo ra chứa đựng
nồng độ nước và muối cao hơn. Cơ bắp to
nhưng lại yếu, đồng thời dễ xảy ra các
tai biến viêm gân hoặc đứt gân.
Một
số ý kiến khác lại biện luận, nếu thực
tế là các steroid đồng hoá làm tăng khối lượng
cơ bắp và sức lực thì việc dùng chúng trong
thể thao là không ngay thẳng và tạo ra nhiều
nguy cơ đe dọa sức khoẻ của vận động viên.
Theo
một báo cáo của IOC mới đây, các vận động
viên điền kinh đã dùng steroid đồng hoá với
liều gấp 10 đến 100 lần so với liều điều
trị thông thường. Hậu quả là có 22% vận động
viên bị các chứng trầm cảm nặng hoặc thao
cuồng (maìor depression or mania) và 12% có các
triệu chứng tâm lý (psycbolic symptoms).
Dưới
đây là một số tác dụng phụ có hại do
steroid đồng hoá:
*
Ðối với nam giới:
-
Trứng cá.
-
Tăng tính hung bạo và đòi hỏi xác thịt, có
khi dẫn đến hành vi tình dục sai lạc, tội
lỗi. Nhưng nếu dùng kéo dài thì lại sinh ra
bất lực.
-
Rối loạn chức năng thận.
-
Teo tinh hoàn.
-
Giảm sản xuất tinh dịch.
-
Vú to
-
Rụng tóc sớm.
-
To và viêm tuyến tiên liệt.
*
Ðối với thiếu niên:
-
Trứng cá nặng ở mặt hoặc toàn thân.
-
Ngừng phát triển xương, do đó có thể hết
lớn.
*
Đối với phụ nữ:
-
Nam hoá.
-
Rối loạn chu kỳ kinh nguyệt do bị ức chế
hoạt động của buồng trứng.
-
Mọc quá nhiều lông tóc trên mặt và trên thân
thể.
-
To âm vật.
Các
biến đổi này có thể không hồi phục. Ðối
với cả nam và nữ có thể có một loạt các
bất thường về gan - như viêm gan, ứ mật,
biến đổi cấu trúc gan, khối u gan lành tính
hay ác tính. Các biến đổi của hệ tim mạch
- như giảm lipoprotein tỷ trọng cao trong tuần
hoàn và tăng nồng độ cholesterol, lipoprotein
tỷ trọng thấp và tăng huyết áp...
Những
dấu hiệu thực thể do việc lạm dụng steroid
đồng hoá về mặt tâm thần thường là thay
đổi tính nết, bệnh tâm thần paranoa ứng
xử kiểu thù ghét, hoặc hoang tưởng bùng nổ
không kiểm soát nổi và thường có các hành
động có tính chất phá hoại, mà các nhà y
học gọi là "roid rage".
Việc
lạm dụng steroid đồng hoá trong thể thao xảy
ra từ trước năm 1960, nhưng tổ chức IOC vẫn
chưa cấm loại ấy. Cho đến tháng 4 năm 1975,
khi các phương pháp phân tích thích hợp đã
được phát triển, Hội đồng Y học thể thao
thuộc IOC mới đưa ra danh sách các steroid đồng
hoá bị cấm. Danh sách này tăng dần (xem phần
Phụ lục).
d.
Nhóm các chất phong bế bêta
Trong
lâm sàng nhóm các chất phong bế bêta được dùng
để hỗ trợ việc làm giảm các cơn đau nửa
đầu thường xuyên, để điều trị cao huyết
áp, giúp kiềm chế chứng ưu tư lo lắng và điều
trị chứng run rẩy cử động (movement tremors)
(Hội nghị Dược điển Mỹ, 1984).
Các
thuốc này còn có công dụng điều trị các
rối loạn nhịp tim - như các chứng mạch nhanh
xoang (do nguyên nhân thần kinh hoặc ưu năng
tuyến giáp), chứng rung và cuồng động nhĩ,
phòng các cơn mạch nhanh trên thất, các chứng
ngoại tâm thu, kể cả chứng nhịp đôi do dùng
digitalin.
Trong
thể thao, vận động viên thường dùng các
thuốc phong bế bêta đối với những môn không
đòi bỏi bỏ nhiều sức lực (Hội đồng Y
học thể thao thuộc IOC, 1986). Các nhà thiện
xạ, người chơi golf, vận động viên bắn
cung, bắn súng... dùng thuốc này để làm cho
tay vững và dễ ngủ trước lúc thi đấu. Từ
khi biết thuốc này làm chậm nhịp tim, các
vận động viên trượt tuyết đã sử dụng nó
để hỗ trợ việc làm tim giảm nhịp đập
dồn dập trước khi thi đấu (Goldman, 1984).
Các
chất phong bế bêta không có tác dụng tăng cường
thành tích đối với các môn thể thao đòi
hỏi sức bền; ngược lại, chúng lại làm
giảm sút nghiêm trọng khả năng lập thành tích.
Hiện
nay Hội đồng Y học thể thao thuộc IOC chỉ yêu
cầu kiểm nghiệm các chất phong bế bêta đối
với các môn thể thao sau đây:
*
Các môn thể thao Mùa Ðông:
-
Trượt tuyết bắn súng;
-
Ngảy ski;
-
Xe trượt tuyết
-
Trượt băng nghệ thuật (thi đấu bắt buộc).
*
Các môn thể thao mùa hè:
-
Bơi thuyền;
-
Bơi hỗn hợp;
-
Lặn;
-
Bắn súng;
-
Bắn cung;
-
Cưỡi ngựa;
-
Chạy vượt rào;
-
Thể dục dụng cụ;
-
Năm môn phối hợp hiện đại.
Tuy
nhiên bảng danh mục này có thể thay đổi.
Các
chất phong bế bêta bị cấm sử dụng trong
thể thao được liệt kê ở phần Phụ lục.
Nếu
vận động viên cần điều trị các chứng
loạn nhịp tim, đau thắt ngực, cao huyết áp và
đau nửa đầu... thầy thuốc cần phải tìm các
chế phẩm thay thế, tránh sử dụng các loại
thuốc có trong danh mục cấm.
e.
Nhóm các chất lợi tiểu
Ðiều
mới nhất trong danh mục các chất bị cấm
trong thể thao là các thuốc lợi tiểu. Chúng
đã được bổ sung vào danh mục các chất bị
coi là doping hồi tháng 4 năm 1986 (Hội đồng Y
học thể thao thuộc IOC, 1986).
Chất
lợi tiểu có nhiều ứng dụng quan trọng trong
điều trị. Chúng được dùng để phối hợp
điều trị bệnh cao huyết áp và những bệnh
có lưu giữ chất nước trong cơ thể (Shanggold
và Mirkin, 1985).
Trong
thể thao vận động viên sử dụng các chất
lợi tiểu với hai lý do:
-
Làm giảm cân nhanh trong các môn thể thao có tính
đến hạng cân như vật, juđô, quyền Anh, cử
tạ,...
-
Làm hạ nồng độ các thuốc bị cấm trong nước
tiểu bằng cách cho thải trừ theo nước tiểu
nhanh hơn để tránh sự phát hiện việc dùng
sai thuốc.
Cả
hai lý do này đều là bất hợp pháp và thiếu
tính trung thực trong thi đấu thể thao.
Về
mặt y học, việc cấm sử dụng các chất
lợi tiểu vì việc làm giảm trọng lượng cơ
thể nhanh có thể gây ra chuột rút ở cơ
bụng và chân, do mất nước nhiều nên kéo
theo sự mất cân bằng các chất điện giải
như natri và kali (Goldman, 1984).
Chất
lợi tiểu còn có thể gây mất cân bằng trong
hệ thống điều hoà thân nhiệt, dẫn tới
kiệt sức, rối loạn nhịp tim, hạ huyết áp
và cuối cùng là ngừng tim và chết (USOC về
việc lạm dụng thuốc, 1987). Theo Goldman (1984),
ông đã chứng kiến hai trường hợp: vận động
viên Universe thuộc liên đoàn Thể dục thẩm
mỹ Quốc tế (IFBB) và một vận động viên
Thuỵ Ðiển đã chết sau một cơn đau tim do
lạm dụng thuốc lợi tiểu.
Tổ
chức IOC đã khuyến cáo: "Những mưu toan làm
giảm cân nặng một cách giả tạo cốt để
thi đấu ở hạng cân nhẹ hơn, hoặc làm loãng
nước tiểu đều là những mánh khoé rõ ràng,
là không thể chấp nhận được trong lĩnh
vực đạo lý." (Hội đồng Y học thể
thao thuộc IOC, 1986).
Danh
mục các chất lợi tiểu bị cấm dùng trong
thi đấu thể thao được liệt kê ở phần
Phụ lục.
g.
Các hocmon peptit và chất tương tự
Các
hocmon peptit hoạt động như những thông tín viên
từ một cơ quan này sang một cơ quan khác để
kích thích sự lớn, ảnh hưởng tới xu thế và
các tập tính sinh dục và giảm đau tự nhiên.
Các
chất tương tự là các thuốc điều chế
bằng phương pháp hoá học giống nhau về hoá
chất, hoặc có tác dụng tương tự với
những thuốc hiện đã có.
Các
chất bị cấm do quyết định của Hội đồng
Y học thể thao thuộc IOC là:
-
Gonadotrophin rau thai (HCG - human chorionic
gonadotrophin).
-
Corticotrophin (ACTH - adeno-corticotrophic hocmon).
-
Hocmon tăng trưởng (GH - growth hocmon hay
somatotrophic hocmon).
Các
chất tương ứng với các chất trên cũng bị
cấm.
Gonadotrophin
rau thai còn có các tên khác là chorionic
gonadotrophin, viết
tắt là CG. pregnancy urin hocmon - PU.
Ðối
với phụ nữ: thuốc gây hiện tượng tạo ra
và rụng trứng, kích tạo hoàng thể và tiết
progesteron.
Ðối
với nam giới: kích thích tiết các steroid sinh
dục nam nội sinh - androgen ở tế bào kẽ của
tinh hoàn (interstitial celt stimulating hocmon), do đó
bị coi là tương đương với việc sử dụng
testosteron theo đường ngoại sinh.
Corticotrophin
còn
có tên khác là adrenocorticotrophin hypophysaire
(ACTH), cotrophin, tetracosaitrin,...
Corticotrophin
kích thích tiết các hocmon tự nhiên ở vỏ thượng
thận và có tác dụng trực tiếp đến các
thụ thể đặc hiệu ở tế bào. Có tác dụng
chống viêm, giảm đau, chống dị ứng, chống
tiết dịch rỉ và chữa viêm đại tràng cấp
(Davidson và Passmore, 1986).
Năm
1975, Hội đồng Y học thể thao thuộc IOC đã
khám phá ra việc vận động viên dùng
corticotrophin để làm tăng lượng corticosteroid
nội sinh trong máu, nhằm đạt được tác
dụng gây cảm giác sảng khoái, phấn chấn như
việc sử dụng các corticosteroid.
Việc
lạm dụng các corticosteroid đã gây ra nhiều
biến chứng nghiêm trọng về mặt y học, như
làm thiếu cân bằng các chất điện phân, cao
huyết áp, phù, tổn thương loét và yếu cơ.
Nếu
vận động viên cần phải sử dụng
corticosteroid để chữa bệnh thì chỉ được dùng
dưới hình thức xông, dùng cục bộ như tiêm
trực tiếp tại vùng đau hoặc trong khớp
(Hội đồng Y học thể thao thuộc IOC, 1986). Ðồng
thời thầy thuốc phải báo cáo cho tổ chức y
học thể thao tại cuộc thi đấu biết rõ tên
của vận động viên đã dùng thuốc này.
Hocmon
tăng trởng (Growth
hormon). Việc dùng hocmon tăng trưởng có tính
phổ biến chỉ xảy ra mới đây trong giới
thể thao. Thuốc này đã được dùng trên lâm
sàng trong 25 năm qua nhằm hỗ trợ việc điều
trị các trẻ thiếu chất hocmon tăng trưởng
để đạt chiều cao bình thường (Spilhotis và
cộng sự, 1984). Cũng có tài liệu nói rằng,
tiêm hocmon tăng trưởng tạo ra sự cân bằng
hoàn toàn nitơ ở cả người và vật thí
nghiệm (Davidson và Passmore, 1986).
Vận
động viên dùng hocmon tăng trưởng nhằm mục
đích làm cho cơ bắp phát triển to, qua đó tăng
cường sức mạnh. Ngoài ra hocmon tăng trưởng
còn được dùng phối hợp với steroid đồng
hoá để làm cho cơ bắp nở nang (Strauss, 1984).
Mặc
dù cho tới nay chưa có tài liệu khoa học nào
chứng minh hocmon tăng trưởng có thể nâng cao
sức lực cơ bắp, song vận động viên vẫn
tiếp tục dùng, bất kể các nguy cơ có hại
cho sức khoẻ do tác dụng phụ của thuốc gây
ra.
Vận
động viên dùng hocmon tăng trưởng còn vì các
phương pháp kiểm tra steroid đồng hoá và
testosteron đã đạt độ chính xác cao, còn các
phương pháp để xác định số lượng hocmon tăng
trưởng ngoại lai (ngoài số lượng bình thường
có trong cơ thể) thì cho đến nay chưa đạt
được các kết quả đáng tin cậy (Puffer,
1986).
Tuy
nhiên Hội đồng Y học thể thao thuộc IOC
vẫn cấm sử dụng hocmon tăng trưởng, vì nó
gây nên nhiều hậu quả xấu như dị ứng, đái
tháo đường, tăng sinh tất cả các mô trong cơ
thể - như nội tạng, xương, nét mặt và làm
cho da dầy lên (USOC về việc lạm dụng
thuốc, 1987). Nó còn làm tăng sự nhão cơ và làm
giảm lớp mỡ bảo vệ bao quanh các nội tạng
trong ổ bụng.
Ðáng
chú ý là nó gây ra bệnh to đầu chi (bệnh
khổng lồ - gigantism), biểu hiện bằng sự tăng
kích thước đầu và sọ, to các ngón tay, tai,
mũi, ngón chân. Ngoài ra nó có thể gây nên các
bệnh tim mạch, bệnh tuyến giáp, rối loạn
kinh nguyệt, thiểu năng sinh dục và rút ngắn
tuổi đời.
2.
Các biện pháp doping bị cấm
a.
Doping máu
Doping
máu còn gọi là "đóng gói máu' (blood
packing), hoặc "tăng cường máu" (blood
boosting). Tức là cho vận động viên dùng máu
hoặc các sản phẩm liên quan của máu, kể
cả erythropoietin (hocmon sản xuất tế bào
hồng cầu), mà không phải để điều trị
hợp pháp. Ðây là việc tiêm máu (máu toàn
bộ hoặc hồng cầu đóng gói) theo đường tĩnh
mạch để vào cơ thể của vận động viên.
Máu
này cũng có thể là máu trước đây đã rút
ra từ chính vận động viên đó (autologus),
hoặc máu của một người khác (nonautologus).
Những
kiểu làm đó trái ngược với đạo lý của y
học và của thể thao. Vì việc truyền máu có
thể kéo theo những nguy hiểm trong kỹ thuật
truyền máu và trong các chế phẩm máu. Đó là
việc gây ra các phản ứng dị ứng (phát ban,
sốt...), phản ứng tan huyết với tổn thương
thận nếu dùng sai nhóm máu, phản ứng chậm
của truyền máu dẫn đến sốt vàng da, lây
bệnh truyền nhiễm (viêm gan siêu vi trùng,
HIV/AIDS), tuần hoàn quá tải và sốt chuyển hoá.
Vì thế việc thực hiện doping máu trong thể
thao đã bị Hội đồng Y học thể thao thuộc
IOC cấm.
b.
Biến đổi nước tiểu về dược lý học, hoá
học, hoặc vật lý học
Hội
đồng Y học thể thao thuộc IOC cấm dùng
những chất và những phương pháp làm biến đổi
sự toàn vẹn và giá trị của các mẫu nước
tiểu dùng cho kiểm tra doping. Những thí dụ
về phương pháp bị cấm là việc thông đái,
thay thế nước tiểu (nước tiểu giả), hoặc
ức chế sự bài tiết của thận như bằng
probenecid và các hợp chất cùng họ.
3.
Các chất hạn chế sử dụng
a.
Rượu
Rượu
không bị cấm. Nhưng nếu có yêu cầu của
một liên đoàn thể thao quốc tế thì phải xác
định mức độ cồn ở hơi thở và nồng độ
rượu trong máu.
Mặc
dù rượu là một trong những chất hay bị
lạm dụng, song nói chung không cải thiện thành
tích thể thao. Nó còn ức chế thần kinh trung
ương và ảnh hưởng đến sự vận động
phối hợp khéo léo của các động tác
tay-mắt.
b.
Cần sa
Cần
sa không bị coi là chất làm tăng thành tích nên
nó không có trong bảng danh mục các chất bị
cấm của IOC. Tuy nhiên, nếu các liên đoàn
thể thao có yêu cầu tin có thể cấm sử
dụng và tiến hành kiểm nghiệm.
Các
sản phẩm phân huỷ của cần sa có thể kiểm
nghiệm thấy trong nước tiểu từ 4-10 ngày sau
khi hút một lần và tới 36 ngày sau đối với
người nghiện cần sa đã bỏ hút. THC là thành
phần phân huỷ của cần sa được cơ thể
hấp thụ và biến thành các chất chuyển hoá,
các chất này có thể phát hiện được trong nước
tiểu hàng mấy tuần lễ sau khi dùng cần sa.
c.
Các chất gây tê tại chỗ
Không
được sử dụng các thuốc gây tê tại chỗ có
chứa các chất trong danh mục thuốc bị cấm.
Các
chất gây tê tại chỗ được phép cho tiêm
trong các trường hợp sau:
-
Cho dùng procain, xylocain, carbocain..., mà không
được dùng cocain.
-
Chỉ dùng tại chỗ, hoặc tiêm trong khớp.
-
Chỉ dùng khi có chỉ định điều trị (có đủ
các dữ kiện về chẩn đoán, liều lượng,
đường đưa vào cơ thể và phải có văn bản
viết ra từ trước).
d.
Corticosteroid
Các
corticosteroid được tổng hợp hoặc gặp trong
tự nhiên (như cortison, prednison...) chủ yếu
được dùng làm thuốc chống tiêm cũng như
giảm đau.
Chúng
ảnh hưởng đến nồng độ tuần hoàn của các
corticosteroid tự nhiên có trong cơ thể và tạo
ra sự sảng khoái.
Cấm
uống hoặc tiêm bắp thịt hay tiêm tĩnh mạch
các corticosteroid. Có thể dùng tại chỗ (tai,
mắt, da...), tiêm tại chỗ hoặc tiêm trong
khớp, xông hít (khi bị hen, viêm mũi dị
ứng).
Khi
dùng phải có báo cáo bằng văn bản trước
gửi ban tổ chức cuộc thi đấu.
|