|
VI.
ĐẶC ĐIỂM DINH DƯỠNG CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN
Dinh
dưỡng thể thao là bộ môn khoa học nghiên
cứu về việc ăn và uống cho vận động viên
trong chế độ tập luyện và thi đấu, nghiên
cứu mối quan hệ giữa các yếu tố dinh dưỡng
với chức năng sinh lý, năng lực vận động,
thích ứng thể lực, phục hồi, mệt mỏi và
bệnh tật. .
Khi
luyện tập thể thao, quá trình trao đổi chất
tăng cường, năng lượng và sự tiêu hao vật
chất tăng lên, quá trình phản ứng của các
men và các phản xạ được hoạt hoá, có sự
tích luỹ các sản phẩm axit và mất nước nên
làm thay đổi hàng loạt các chất trong cơ
thể. Vì thế vấn đề dinh dưỡng cho vận động
viên có ý nghĩa quan trọng.
Dinh
dưỡng hợp lý là phải bổ sung toàn diện
những tiêu hao của vận động viên, là quá trình
điều tiết sự trao đổi chất trong cơ thể,
để kho dự trữ dinh dưỡng trong cơ thể vận
động viên đợc đầy đủ.
1.
Yêu cầu về dinh dưỡng hợp lý
a.
Cân bằng năng lượng
Trong
điều kiện binh thường, năng lượng được
cung cấp và bị tiêu hao luôn giữ mức ổn định.
Năng lượng là điều kiện cơ bản của mọi
hoạt động trong
cơ thể. Năng lượng không đủ các hoạt động
chức năng giảm sút, sức khoẻ kém; năng lượng
quá thừa lại gây tích mỡ, cũng làm cho cơ
thể khó vận động, hoạt động chức năng khó
khăn và sức khoẻ cũng kém đi: Do vậy việc
cung cấp thức ăn hợp lý là điều tối quan
trọng.
Năng
lượng cần cung cấp cho cơ thể phụ thuộc chính
vào năng lượng tiêu hao. Yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến sự tiêu hao năng lượng là
lượng vận động tập luyện, cường độ
vận động, đặc tính các môn thể thao,
trọng lượng vận động viên và thời gian
vận động. Do vậy sự cung cấp năng lượng
phải căn cứ vào tình hình tập luyện và đặc
điểm cá thể của từng vận động viên.
Phương
pháp đơn giản để tính năng lượng của
thực phẩm-thức ăn đưa vào cơ thể là căn
cứ vào chủng loại thực phẩm và trọng lượng
(100mg) của chúng để tra bảng (xem Phụ lục)
và tính tổng năng lượng của thực phẩm được
cung cấp trong ngày.
Do
tác dụng đặc biệt của các loại thực
phẩm là không sinh công nên khi cân bằng
nhiệt lượng giữa tiêu hao và cung cấp cần
phải trừ đi năng lượng không sinh công nói
trên.
Những
vận động viên trưởng thành còn tính được
năng lượng thay đổi theo cân nặng.
b.
Nguồn năng lượng thích hợp
Trong
thực phẩm, tỉ lệ giữa gluxit, lipit và protit
thích hợp sẽ có lợi cho quá trình trao đổi
chất. Tỉ lệ đó là:
|
Protit
|
Lipit
|
Gluxit
|
|
1
|
1
|
4
|
Và
năng lượng được cung cấp tương ứng là:
14%, 28%, 58%.
Ðối
với vận động viên là những người cần ít
lipit thì tỉ lệ đó là:
|
1
|
0,7-0,8
|
4
|
|
15%
|
24-25%
|
60%
|
Ðặc
điểm trao
đổi chất ở các môn thể thao khác nhau có
sự khác nhau, cần điều chỉnh tỉ lệ của
ba loại nói trên cho thích hợp. Ví dụ, các bài
tập sức mạnh có nhu cầu protit cao hơn, còn các
bài tập sức bền tỉ lệ gluxit nhiều hơn,
vận động viên bơi lặn lại cần nhiều lipit
hơn trong khẩu phần.
c.
vitamin và các chất bổ sung
Vitamin
và muối khoáng rất cần cho vận động viên
như đã trình bày ở các phần trên. Sau đây
là một số tiêu chuẩn được sử dụng cho
các vận động viên Trung Quốc, chúng ta có
thể tham khảo (bảng 14).
Bảng
14. Nhu cầu vitamin cho người bình thường và
vận động viên (mg/ngày)
|
|
a
|
B1
|
B2
|
pp
|
c
|
d
|
e
|
|
Người
bình thường
Vận
động viên các môn sức mạnh-tốc độ
Vận
động viên các môn sức bền
|
1,5
2
2
|
1.5
4-6
6-10
|
2
5
4
|
20
25
25-30
|
75
100-200
100-200
|
2
2
2
|
6
7
10
|
d.
Thức ăn dễ tiêu
Do
tập luyện và thi đấu căng thẳng vận động
viên thường ở vào trạng thái hưng phấn hệ
thần kinh giao cảm, chức năng tiêu hoá yếu,
do vậy cần ăn thức ăn dễ tiêu. Thức ăn vào
dạ dày và lưu lại ở đây khoảng 4-6 giờ.
Thời gian tiêu hoá các loại thức ăn không
giống nhau, gluxit tiêu hoá nhanh nhất, mỡ
chậm nhất. .
Căn
cứ vào tác dụng tạo axit và kiềm sau khi trao
đổi chất người ta phân thức ăn ra hai
loại: thức ăn có tính axit và thức ăn có tính
kiềm. Loại thức ăn có các nguyên tố kim
loại nh na tri, canxi, ka li, ma giê thường mang
tính kiềm; chúng có trong hải sản và một
số hoa quả. Một số thực phẩm có các nguyên
tố không kim loại như photpho, lưu huỳnh,
cho là loại thức ăn có tính axit như trứng,
thịt, đậu phụ. Hoa quả tuy chứa nhiều axit
nhưng sau khi chuyển hoá chúng không mang tính
axit.
Các
thức ăn mang tính kiềm
có phản ứng với CO2 tạo thành muối
axit. Thức ăn mang tính axit phản ứng với NH3
trong thận sẽ tạo thành amoniac và thải ra ngoài
theo nước tiểu. Máu ở trong cơ thể !uốn có
độ ph: 7,3 - 7,4.
Nếu
nồng độ axit quá cao sẽ gây mệt mỏi, thần
kinh phản. ứng kém, huyết áp cao, xơ cứng động
mạch. Do vậy nên chọn các loại thức ăn để
có thể giữ cân bằng độ kiềm toan thích
hợp (xem Phụ lục).
Trong
quá trình tập luyện với cường độ cao, các
sản phẩm axit tích luỹ trong cơ thể nhiều làm
cơ thể có nồng độ axit cao. Do vậy vận động
viên nên ăn nhiều thức ăn mang tính kiềm.
e.
Chế độ ăn uống hợp lý
Chế
độ ăn uống gồm số lần ăn, thời gian ăn và
thức ăn. Chế độ ăn uống hợp lý có lợi
cho tiêu hoá và hấp thụ thức ăn. Nên ăn đúng
giờ, vận động viên không nên uống rượu
và các chất kích thích mạnh. Vận động viên
ngoài ba bữa ăn chính tốt nhất nên có 1-2
lần ăn phụ, nhất là những người trẻ có
khả năng tiêu hao năng lượng nhiều hơn.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, tăng
số lần bữa ăn không những có lợi cho sức
khoẻ mà còn nâng cao hiệu suất vận động.
Bữa ăn thêm nên cung cấp khoảng 5-10% tổng năng
lượng của cả ngày.
Thời
gian ăn có khoảng cách nhất định đối với
giờ tập hoặc thi đấu, đặc biệt là đối
với ba bữa chính - sáng, trưa, chiều. Thức
ăn phức tạp gây khó tiêu. Do vậy sau tập
luyện cần nghỉ 30 phút rồi mới ăn. Nếu
tập nặng thì cần nghỉ nhiều hơn, khoảng 45
phút. Nói chung nên tiến hành tập luyện sau
khi ăn 1,5-2,5 giờ, bởi vì khi dạ dày đầy
thức ăn cơ hoành nâng cao gây khó khăn cho sự
thở. Mặt khác, sau khi ăn có 25% lượng máu cơ
thể tập trung cho cơ quan tiêu hoá, nếu tập,
máu lại dồn đến các cơ quan vận động, cơ
quan tiêu hoá chỉ còn lại 30/0. Ðiều đó
ảnh hưởng không tất tới việc tiêu hoá
thức ăn, dễ gây đau bụng, nôn mửa. Do vậy
sau khi ăn không nên vận động ngay.
Vấn
đề ăn thêm trong
khi thi đấu hoặc ăn lúc nghỉ giữa thi đấu
là có thể được, song các thức ăn phải đễ
tiêu, dễ hấp thụ, không tạo gánh nặng cho
bộ máy tiêu hoá
Sự
phân phối chất lượng và nhiệt lượng của
thức ăn trong ngày phải sắp xếp theo tình hình
sinh hoạt hàng ngày của vận động viên trên
nguyên tắc không cho ăn quá nhiều trước tập
luyện, phải ăn các chất dễ tiêu, ít mỡ và
xenlulo.
Các
thức ăn sau tập luyện nên nhiều hơn, song
buổi tối không nên ăn quá no, tránh các chất
kích thích và nên ăn các chất dễ tiêu. Thức
ăn cho buổi sáng nên nhiều protit và vitamin để
có thể nâng cao đường huyết và chức năng
sinh lý của cơ thể trong cả ngày (hình I).
Các
thức ăn mỡ và đạm không được ăn nhiều vào
bữa tối để tránh đường huyết tiếp tục
tăng cao, gây khó ngủ. Nhiệt lượng do thức
ăn cung cấp hàng ngày được phân phối theo
bảng sau:
Bảng
15. Phân phối nhiệt lượng của thức ăn trong
ngày (%)
|
Bữa
sáng
|
Bữa
trưa
|
Bữa
chiều
|
Bữa
tối
|
|
30-35
(tập)
35-40
30-35
|
35-40
30-35
(tập)
35-40
|
25-30
25-30
15-20
(tập)
|
5-10
5-10
5-10
|
g.
Cung cấp đầy đủ nước:
Trong
quá trình tập luyện và thi đấu, cơ thể
mất nhiều nước nên trong thành phần dinh dưỡng
phải bổ sung nước để tránh khả năng mất
nước cho cơ thể vận động viên.
2.
Ðặc điểm dinh dưỡng của các loại vận động
a.
Ðặc điểm dinh dưỡng đối với tập luyện
tốc độ
Ðặc
điểm quá trình trao đổi chất ở vận động
viên luyện tập tố chất nhanh là hoạt động
ở chế độ yếm khí cao, nguồn cung cấp năng
lượng chủ yếu là đường phân yếm khí. Ngoài
ra, hoạt động ở cự ly ngắn, cường độ
hoạt
động
cao, axit lactic tích luỹ nhiều trong cơ. Do vậy
thức ăn đòi hỏi dễ tiêu, dễ hấp thụ, ví
dụ như đường, vitamin C và thức ăn cần có
protit và photpho.
Hàm
lượng protit cần khoảng 2g/kg cân nặng trở lên,
năng lượng do protit cung cấp phải đạt trên
15% tổng năng lượng của cả ngày để tăng
dự trữ kiềm cần ăn nhiều rau, nước hoa
quả. ở Liên Xô trước đây quy định là nước
trái cây phải chiếm 15-20% tổng ăng lượng
cung cấp hàng ngày.
b.
Ðặc điểm dinh dưỡng đối với tập luyện
sức bền
Ðặc
điểm dinh dưỡng của vận động viên đặc
trưng tố chất sức bền là sự tiêu hao năng
lượng lớn. Trao đổi chất chủ yếu là đường
phân hiệu khí. Khi tập sức bền, sự tiêu hao
năng lượng từ nguồn đường trong cơ tăng lên,
phân giải protit để nhanh chóng có glycogen, năng
lượng chủ yếu dựa vào lipit. Do vậy vận động
viên đặc trưng sức bền yêu cầu cung cấp
năng lượng rất cao.
Ðể
tăng cao hàm lượng hemoglobin và men hô hấp thì
nhu cầu protit tăng, đường và các loại
vitamin B và C cũng nhiều lên. Ðể bảo đảm năng
lượng do
thức
ăn đưa lại và vừa giảm nhẹ gánh nặng cho
dạ dày thì cần nhiều thức ăn có mỡ hơn. Năng
lượng do mỡ cung cấp bằng khoảng 30-35%
tổng năng lượng được cung cấp. Ðể xúc
tiến quá trình trao đổi lipit trong gan cần
uống nhiều sữa. Ðể nâng cao hàm lượng đường
trong cơ với mục đích nâng cao sức bền có
thể dùng phương pháp bổ sung đường trực
tiếp.
Phương
pháp bổ sung đường trực tiếp là sừ dụng
lượng đường cao trong thức ăn trộn thêm
glycogen. Ðây là phương pháp nâng cao năng
lực hoạt động sức bền. Bởi vì năng lực
hoạt động sức bền quyết định hàm lượng
đường trong cơ, hàm lượng đường trong cơ
lại do nguồn đường trong thức ăn cung cấp.
Có
ba phương pháp bổ sung đường trực tiếp (hình
2):
1/
Thức ăn thường - Thức ăn nhiều đường -
Thi đấu;
2/
Thức ăn thường - Tập luyện - Thức ăn
nhiều đường - Thi đấu;
3/
Thức ăn thường - Tập luyện - Thức ăn
nhiều đạm và mỡ - Thức ăn nhiều đường =
Thi đấu.
Trong
ba phương pháp trên, loại thứ nhất dễ thực
hiện tuy hàm lượng đường trong cơ tăng không
nhiều, song phản ứng cơ thể tốt. Phương pháp
thứ ba phức tạp hơn, trong giai đoạn tăng lượng
vận động cho thức ăn nhiều đạm và mỡ, cơ
thể sẽ thiếu đường, song sau đó lượng
đường được hồi phục, nâng cao được
hàm lượng glycogen/cơ, nhưng gây phản ứng cơ
thể không tốt ví dụ, khi cơ thể thiếu đường
sẽ xuất hiện cơ vô lực và có trạng thái hưng
phấn thấp; trong giai đoạn tồn kho đường
tim bị đau, cơ nhức, nước tiểu có máu; ngoài
ra, khi glycogen/cơ tăng thì thành phần nước
trong cơ cũng tăng (gam glycogen/cơ tăng 2,7g nước),
gây nên cứng cơ.
Hình
2. Sơ đồ hàm lượng glycogen / cơ ở ba phương
pháp bổ sung đường trực tiếp
Do
phương pháp bổ sung đường trực tiếp có tác
dụng phụ, cho nên việc sử dụng phương pháp
này hiện nay có nhiều ý kiến và người ta
rất thận trọng khi dùng phương pháp này, đặc
biệt là phương pháp thứ ba, người ta chỉ
sử dụng 1-2 lần trong năm đối với vận động
viên có trình độ cao, có kinh nghiệm và chịu
đựng sức bền tốt.
Bảng
16. Cấu tạo thức ăn của phương pháp bổsung
đường trực tiếp (theo tài liệu nước ngoài)
|
Các
loại thức ăn
|
Cấu
tạo thức ăn (% nhiệt lượng)
|
|
|
Protit
|
Lipit
|
Gluxit
|
|
Thức
ăn thường
Thức
ăn nhiều đường
Thức
ăn nhiều đạm, đường
|
13%
17%
70%
|
26%
7%
20%
|
61%
76%
10%
|
65% tinh bột
35% trái cây
ít dùng
đường
nấu
|
Ở
nước ngoài người ta nghiên cứu nhiều đề tài
về việc cải thiện trao đổi lipit, nâng cao
khả năng sử dụng lipit của cơ thể. Ví dụ,
dùng phương pháp thực phẩm có nhiều mỡ,
hoặc bằng phương pháp huấn luyện đói gây
phản ứng men của quá trình tiêu hao mỡ,
hoặc uống cà phê.
Ngoài
ra, chúng ta biết rằng vận động viên tập
sức bền mất nhiều mồ hôi, cần phải bổ
sung nước và các chất điện giải.
c.
Ðặc điểm dinh dưỡng đối với tập luyện
sức mạnh
Vận
động viên đặc trưng sức mạnh yêu cầu
hệ cơ có sức mạnh lớn và sức bột phát
cao, đồng thời năng lượng tiêu hao cao. Ðể
phát triển cơ cần nhiều protit và các loại
vitamin B, đặc biệt là trong thời gian huấn
luyện ban đầu.
Cần
cung cấp đầy đủ protit, với mức trên 2g/kg
cân nặng. Năng lượng do protit chiếm trên 18%,
trong đó các loại protit cao cấp chiếm 1/3. Ðể
bảo đảm chức năng hoạt động của hệ
thần kinh-cơ cần bổ sung các chất kali,
na
tri, ma giê, sắt. Ðồng thời nhu cầu đường
cũng rất lớn. Ngoài ra các vận động viên
cử tạ, vật còn cần chú trọng vấn đề
dinh dưỡng để khống chế trọng lượng và
giảm cân.
d.
Ðặc điểm dinh dưỡng đối với tập luyện
tính linh hoạt
Vận
động viên tập thiên về tính linh hoạt thì năng
lượng tiêu hao không lớn, nhưng yêu cầu tính
nhịp điệu rất cao, hệ thần kinh rất căng
thẳng. Ðồng thời những người này có yêu
cầu về cân nặng và thành phần cơ thể tương
đối khắt khe, do vậy sự cân bằng về năng
lượng là rất nghiêm.
Thức
ăn cho họ phải đầy đủ lượng protit, năng
lượng do protit chiếm trên 15% tổng năng lượng
được cung cấp.
Ðể
bảo đảm chức
năng hoạt động của hệ thần kinh cần cung
cấp vitamin B1, vitamin C và photpho. Nhiệt lượng
trong thức ăn không nên nhiều vì sẽ làm tăng
cân và tạo mỡ. Ðối với một số môn thể
thao nghệ thuật, vấn đề khống chế cân
nặng rất quan trọng, do vậy việc ăn uống
cần có chế độ đặc biệt.
e.
Các môn khác
Các
môn bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ yêu cầu
phát triển toàn diện các tố chất nhanh,
mạnh, bền; lượng vận động thường xuyên
cao, năng lượng tiêu hao nhiều. Do vậy yêu
cầu về dinh dưỡng cũng phải toàn diện.
Các
môn thể thao dưới nước, ngoài đặc điểm
phát triển sức bền, tốc độ thì năng lượng
tiêu hao lớn hơn đo hoạt động trong môi trường
nước. Do vậy trong khẩu phần ăn cần tăng thành
phần mỡ, vitamin A. Các môn bắn súng, cung,
kiếm cần nhiều vitamin A.
3.
Dinh dưỡng trong thời kỳ thi đấu
Thời
kỳ thi đấu bao gồm thời kỳ trước thi đấu,
trong thi đấu. và sau thi đấu
a.
Dinh dữơng thời kỳ trước thi đấu
Chế
độ dinh dưỡng thời kỳ trước thi đấu có
ảnh hưởng lớn đến tình trạng dinh dưỡng
của cơ thể khi vận động viên thi đấu. Thông
thường đây là thời kỳ điều chỉnh công tác
huấn luyện, khoảng 10 ngày. Chế độ dinh dưỡng
cũng phải điều chỉnh theo. Nhiệm vụ dinh dưỡng
lúc này là duy trì cân nặng thích hợp, tăng
dự trữ các vitamin, tăng khả năng tích luỹ
đường và kho dự trữ kiềm cho cơ thể. .
Yêu
cầu cụ thể như sau:
-
Giảm cung
cấp năng lượng cùng với việc giảm lượng
vận động, tránh đưa năng lượng quá lớn
vào cơ thể làm tăng cân nặng. .
-
Giảm cung cấp protit, lipit để tránh tạo và tích
các sản phẩm axit
trong cơ thể.
Tăng
dự trữ đường trong gan và glycogen trong cơ. Các
môn cần sức bền có thể dùng phương pháp
bổ sung đường trực tiếp.
Tăng
cung cấp vitamin. Ngoài việc ăn uống phải tăng
lượng vitamin cần thiết:
vitamin
A: 2mg/ngày.
Vitamin
B: 5-10mg/ngày.
Vitamin
C: 200-250mg/ngày.
-
Tăng muối khoáng để tăng dự trữ kiềm.
Dựa
vào thời gian thi đấu mà điều chỉnh chế độ
ăn để vận động viên dần dần thích ứng
với thức ăn của thời kỳ thi đấu.
b.
Dinh dưỡng ở thời khắc trước thi đấu
Vận
động viên trong khi thi đấu rất căng thẳng,
chức năng tiêu hoá kém đi, tình trạng cơ
thể ở thời điểm trước thi đấu có ảnh hưởng
rất lớn đến trạng thái chức năng khi thi đấu.
Do vậy chế độ dinh dưỡng không thoả đáng
có thể gây khó khăn cho việc phát huy năng
lực vận động. Việc sắp xếp chế độ ăn
uống tức thời rất quan trọng, với nguyên
tắc là việc ăn uống ở thời khắc trước
thi đấu không cản trở các phản ứng sinh lý
của cơ thể khi thi đấu, tạo điều kiện
thuận lợi cho sự trao đổi chất.
Cụ
thể là:
Không
nên ăn quá nhiều, năng lượng vào cơ thể
khoảng 500-1000kcal, tức là ăn khoảng 7/10 là
vừa.
-
Ăn thức ăn dễ tiêu, dễ hấp thụ, không nên
ăn thức ăn nhiều xơ như rau, đậu.
Tỉ
lệ nguồn thức ăn là nhiều đường, ít mỡ,
ít đạm. Nhưng ở các môn thi đấu trong thời
gian dài lại nên ăn mỡ với tỉ lệ thích đáng
và tránh tình trạng bụng trống rỗng, đường
huyết giảm.
-
Nên ăn các món ăn quen hàng ngày.
-
Ăn và uống trước khi bước vào thi đấu
2,5-3 giờ ở những môn đối kháng trực tiếp
như vật, bóng đá cần chú ý khoảng cách ăn.
Nên thi đấu trong tình trạng dạ dày không còn
chứa nhiều thức ăn . Trước thi đấu nên ăn
các thức ăn lỏng, thời gian giữa các lần ăn
ngắn, lượng ăn ít (500kcal trở lại), cũng có
thể rút ngắn khoảng cách giữa các lần ăn
thức ăn lỏng là 1,5 giờ.
Giảm
muối, vì ăn mặn sẽ tăng thải nước.
-
Trước khi thi đấu có thể ăn đường, nhất
là loại đường tinh để phòng ngừa giảm
đường huyết. Ðối với các môn thể thao khác
nhau việc ăn đường cũng khác nhau. Các môn
cự ly ngắn ăn đường trước thi đấu nửa
giờ, các môn cự ly dài ăn đường trước 2
giờ. Lượng đường ăn vào khoảng lg/kg cân
nặng/ngày. Nếu ăn quá nhiều đường sẽ làm
tăng độ nhớt của máu, hàm lượng kali trong
máu giảm.
-
Trước khí thi đấu nên uống nhiều vitamin C,
khoảng l50-200mg.
-
Vitamin C sau khi uống 30-40 phút mới có tác
dụng. Cho nên đối với các môn vận động
trong thời gian ngắn nên uống trước khi thi đấu
80-40 phút, còn các môn thi đấu với thời gian
dài thì nên uống ngay thời khắc trước thi đấu.
Nên chú ý là uống vitamin C và ăn đường
chỉ đối với các cuộc thi đấu quan trọng.
c.
Dinh dưỡng trong thi đấu
Khi
cuộc thi đấu kéo dài, tiêu hao thể lực
nhiều thì nguồn năng lượng và kho năng lượng
không đáp ứng đủ yêu cầu, đường huyết
giảm, xuất hiện mệt mỏi, thể lực giảm.
Ðể bổ sung nước và nguồn năng lượng có
thể cung cấp thêm nước uống có đường là
chủ yếu ngay trong thời gian thi đấu.
d.
Dinh dưỡng sau thi đấu
Sau
khi thi đấu căng thẳng vận động viên cần
được bổ sung dinh dưỡng hợp lý giúp cho
việc giải toả mệt mỏi và hồi phục kịp
thời. Sau khi thi đấu với cường độ lớn
cần phải uống 100-150mg đường để bổ sung
nhiệt lượng đã tiêu hao, xúc tiến tích luỹ
đường ở gan, phòng ngừa sự thẩm thấu mỡ
của gan, giúp cân bằng đường huyết và
giảm hàm lượng axit lactic trong máu.
Hình
3. Ðồ thị thể hiện các loại thức ăn khác
nhau ảnh hưởng tới hàm lượng đuởng trong cơ
vận động viên.
Sau
thi đấu, thức ăn nguồn đường có ảnh hưởng
tốt đối với cơ thể (xem hình 3) .
Người
ta đã chứng minh rằng, sau khi thi đấu với cường
độ lớn việc hồi phục đường trong cơ
phải mất 2-3 ngày. Dùng phương pháp cung cấp
thức ăn nhiều đường sẽ rút ngắn thời
gian hồi phục được 1 ngày. Sau khi thi đấu,
thức ăn cho vận động viên trong 2-3 ngày đầu
cần giàu năng lượng, thức ăn nguồn đường
dễ hấp thụ hơn thức ăn giàu protit và lipit,
cần bổ sung vitamin B1, B2,PP, C, muối khoáng, đặc
biệt là kali.
4.
Dược liệu ăn uống trong thể thao
Dược
liệu thể thao gồm
các thức ăn và uống có tác dụng cải
thiện năng lực vận động của vận động viên.
Hiện nay các dược liệu thể thao phát
triển rất phong phú.
Dược
liệu thức ăn gồm được liệu làm từ đường,
từ các chất điện giải, từ nước hoa quả,
dược liệu nhiều oxy. Dược liệu thức ăn
có ý nghĩa đặc biệt là có thể góp phần nâng
cao thành tích thể thao, song các dược liệu
quan trọng nhất đều tính đến sự cung cấp
nước và đường cho vận động viên
Ta
biết rằng, năng lượng và sự trao đổi
chất của cơ thể vận động viên lúc tập
luyện lớn gấp 10-20 lần so với lúc nghỉ ngơi.
Phần lớn năng lượng tiêu hao cung cấp cho
hoạt động cơ bắp, phần khác cho quá trình
chuyển hoá và làm tăng thân nhiệt. Lượng
vận động tập luyện càng lớn, sinh nhiệt càng
nhiều, thân nhiệt càng cao, cơ thể không toả
|