|
IV.
CÁC CHẤT DINH DƯỠNG
PROTIT
(ĐẠM)
1.
Cấu tạo và phân loại
Protit
là một hợp chất hoá học rất phức tạp,
chứa các nguyên tố chủ yếu cacbon, hydro, oxy,
nitơ (C, H, O, N) và được tạo thành từ các
axit amin.
Protit
trong thức ăn có hơn 20 loại axit amin, trong đó
có một số axit amin cơ thể không tự tổng
hợp được, chúng nhất thiết phải được
đưa vào từ bên ngoài cùng với thức ăn, người
ta gọi đó là các axit amin cần thiết. Tất
cả có 10 axit amin cần thiết.
Những
axit amin cần thiết và không cần thiết đều
là nhu cầu của cơ thể, đều có ý nghĩa sinh
lý và đều phải bảo đảm một tỉ lệ thích
đáng đối với cơ thể
Mỗi
một protit đều cấu tạo ít nhất từ 10 axit
amin trở lên. Dựa vào cấu tạo của các axit
amin của protit, trong dinh dưỡng học người ta
phân ra ba loại protit.
a.
Loại protit hoàn toàn là protit có tất cả các
axit amin cần thiết với tỉ lệ
thích đáng, đủ duy trì sức khoẻ người trưởng
thành và thúc đẩy quá trình sinh trưởng và
phát dục ở trẻ em, loại protit này có trong
sữa, đậu vàng, thịt, gạo...
b.
Loại protit bán hoàn toàn là protit có axit amin
cần thiết tương đối, song tỉ
lệ không thích đáng, có thể duy trì sự
sống, nhưng không thúc đẩy quá trình sinh trưởng
và phát dục. Ví dụ protit trong lúa mạch và
mạch nha.
c.
Loại protit không hoàn toàn có ít các axit amin
cần thiết, không có khả
năng thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát
dục cũng như duy trì cuộc sống. Ví dụ
protit trong ngô, trong các tổ chức mô động
vật.
2.
Công dụng dinh dưỡng
a.
Cấu tạo tổ chức cơ thể
Protit
là thành phần quan trọng cấu tạo nên tất
cả các tổ chức và tế bào cơ thể, là cơ
sở vật chất của sự sống. Protit được
cung cấp để cơ thể sinh trưởng, nó là nguyên
liệu tái tạo và bổ sung tổ chức mới.
Protit chiếm 80% thành phần tếbào và tổ
chức rắn của cơ thể.
b.
Ðiều tiết chức năng sinh lý
Protit
trong cơ thể tham gia vào rất nhiều chức năng
sinh lý, là vật chất
cơ
sở của quá trình sống. Một số protit là các
men có tác dụng xúc tác cho các phản ứng sinh
hoá của cơ thể. Hemoglobin tham gia vận chuyển
oxy là một protit của máu. Một nhóm protit còn
là các kháng thể có chức năng bảo vệ cơ
thể. Protit huyết tương bao đảm
áp suất thẩm thấu. Một số axit amin là
thành phần tạo ra năng lượng cho cơ thể
(ATP), có vai trò trong chức năng co cơ
c.
Cung cấp năng lượng
Công
dụng chủ yếu của protit không phải là cung
cấp năng lượng. Nhưng khi lipit và gluxit cung
cấp năng lượng không đầy đủ, hoặc khi
axit amin vào cơ thể quá nhiều, vượt quá nhu
cầu cơ thể, protit lập tức sinh năng lượng.
Ngoài ra khi phân giải protit sẽ sản sinh ra năng
lượng. Mỗi gam protit khi oxy hoá sẽ giải phóng
4kcal.
Nếu
trong một thời gian dài protit không được
cung cấp đủ sẽ dẫn đến chứng bệnh
thiếu protit. Chức năng cơ thể lúc đó giảm
sút, giảm sức đề kháng, năng lực phản
ứng kém, nhi đồng chậm phát triển, người
lớn có biểu hiện sút cân, cơ bắp cứng,
thiếu máu, tim đập chậm, huyết áp hạ
thấp, ở phụ nữ có rối loạn kinh nguyệt và
xuất hiện phù thũng.
Lượng
protit của huyết tương là chỉ tiêu đánh giá
tình trạng dinh dưỡng protit của cơ thể.
Chỉ tiêu bình thường của protit huyết tương
là tổng số protit huyết tương, là 6,8g
(5,8-7,8)/100ml máu; globulin:2,2g (1,6-3,l)/100ml máu.
Khi cơ thể thiếu protit, đồng thời protit
huyết tương cũng giảm và giá trị các chỉ
tiêu khác cũng giảm. .
3.
Ðánh giá giá trị dinh dưỡng của protit trong
thức ăn
Giá
trị dinh dưỡng của protit thức ăn quyết định
ở hàm lượng, thành phần thức ăn và khả năng
hấp thụ, sử đụng và tình trạng các chất.
Chúng ta có thể căn cứ vào các mặt sau đây
để đánh giá giá trị dinh dưỡng của protit
thức ăn.
a.
Hàm lượng protit trong thức ăn
Thoả
mãn protit về lượng cần thiết là điều quan
trọng nhất. Hàm lượng các protit trong thức
ăn rất khác nhau. Nói chung các loại đậu có
hàm lượng protit cao, sau đó là thịt, sau nữa
là cơm và rau (xem bảng 6).
Bảng
6: Hàm lượng protit của các loại thức ăn
(g%)
Loại
thức ăn
|
Hàm
lượng
|
Loại
thức ăn
|
Hàm
lượng
|
|
Sữa
bò
Trứng
gà
Thịt
lợn nạc
Thịt
bò nạc
Thịt
dê nạc
Cá
Lúa
đại mạch
Tiểu
mạch
Bánh
phở
|
3.3
12.3
16.7
20.2
15.5
12.0-18.0
8.5
9.7
9.9
|
Ngô
Đậu
nành
Đậu
cô-ve
Rau
Dầu
cải
Bắp
cải
Lạc
Cao
lương
Đậu
trắng
|
8,6
34,2
18,8
1,0
2,0
1,4
20,2
2,0
2,3
|
b.
Hiệu suất tiêu hóa (khả năng hấp thu)
Hiệu suất tiêu hoá protit phản ánh
mức độ thức ăn protit được cơ thể hấp
thụ. Hiệu suất tiêu hoá càng cao thì sự
hấp thụ càng nhiều. Hiệu suất tiêu hoá tính
theo công thức sau:

Những loại thức ăn được chế
biến và những yếu tố tác động của men tiêu
hoá có thể ảnh hưởng đến hiệu suất tiêu
hoá. Hiệu suất tiêu hoá protit của thức ăn
thực vật thấp hơn thức ăn động vật
(thực vật :73%, động vật: 92%). Ðó là do
protit thức ăn thực vật có các sợi xenlulo
bao bọc, ngăn cách thức ăn tiếp xúc với men
tiêu hoá, đồng thời cũng do các yếu tố có
trong thức ăn ngăn hiệu suất protit. Ví dụ, các
men kháng protit trong đậu nành làm cho hiệu
suất protit thức ăn giảm xuống. Những thức
ăn gia công khử được vỏ bọc xenlulo và làm
mềm thức ăn. Chế biến thức ăn thường
bằng sấy với nhiệt độ cao sẽ phá huỷ các
men kháng protit, do đó có thể nâng cao hiệu
suất protit thức ăn. Ví dụ, hiệu suất protit
thức ăn của đậu nành là 60%, sau khi gia công
hiệu suất tăng lên 90%, thịt tăng 92-94%,
trứng: 98%, sữa: 97-98%, cơm: 82%, bánh bao:79%,
ngô: 66%. Xào hoặc nấu chín thức ăn nói chung
có tác dụng nâng cao hiệu suất protit, song
nếu nhiệt độ quá cao không những làm giảm
hiệu suất protit, mà còn làm h hại axit min,
giảm giá
trị dinh dưỡng.
c. Giá trị
protit: Giá trị sinh học là chỉ tiêu quan
trọng đánh giá giá trị dinh
dưỡng của protit. Ðó là mức độ chất
protit được sử dụng trong cơ thể. Giá
trị sinh học càng cao thì giá trị dinh dưỡng
sẽ càng cao. Công thức tính như sau:
Giá
trị sinh học của protit phụ thuộc vào tỉ
lệ của hàm lượng các axit amin. Tỉ lệ axit
amin cần thiết trong protit thực phẩm càng phù
hợp với nhu cầu cơ thể thì giá trị protit càng
cao.
Bảng
7. Giá trị sinh học của protit trong các protit
thức ăn thông thường
Thức
ăn
|
Giá
trị sinh học
|
Thức
ăn
|
Giá
trị sinh học
|
|
Trứng
gà
Sữa
Thịt
lợn
Thịt
bò
Gan
bò
Cá
Tôm
Ðậu
mạch
Bánh
phở
|
94
85
74
76
77
76
77
77
67
|
Cơm
Ngô
Ðậu
nành
Bắp
cải
Kê
Ðậu
xanh
Lạc
Rau
cải
Rau
xanh
|
57
60
57
67
56
58
59
76
67
|
"Vai
trò bổ sung protit" là
phương pháp tổng hợp vài loại protit để
phối hợp
tương quan các axit amin có trong đó với mục
đích cải thiện tỉ lệ hàm lượng axit amin
cần thiết, nâng cao giá trị protit. Ví dụ, có
loại axit amin trong đậu nành và trong thịt
thấp, trong ngô lại cao, hai loại này bổ sung
cho nhau sẽ làm cho giá trị sinh học của
thức ăn cao hơn.
Bảng
8: Giá trị sinh học của protit hỗn hợp
|
Protit
hỗn hợp
|
Giá
trị sinh học sau khi hỗn hợp
|
|
Thức
ăn
|
Giá
trị sinh học ban đầu
|
Tỉ
lệ hỗn hợp
|
|
Cơm
Ngô
đậu
nành
|
67
60
57
|
40%
40%
20%
|
70
|
|
Cơm
Đậu
nành
|
67
57
|
67%
33%
|
77
|
|
Ðậu
nành
Ngô
Cơm
|
57
60
67
|
20%
40%
40%
|
73
|
|
Ðậu
nành
Kê
Ngô
|
57
56
60
|
20%
30%
50%
|
75
|
|
Ðậu
nành
Trứng
gà
|
57
94
|
70%
30%
|
77
|
|
Sữa
Bánh
phở
|
85
67
|
33%
55%
|
83
|
|
Cơm
Phở
|
57
67
|
25%
55%
|
70
|
|
Thịt
bò
Ðậu
nành
|
76
57
|
10%
10%
|
77
|
Tóm
lại, sử dụng thức ăn da dạng phối hợp
với nhau, protit độn55%g vật phối hợp với
prôtit động vật một cách hợp lý sẽ phát
huy vai trò bổ sung protit, nâng cao giá trị dinh
dưỡng.
4.
Nguồn và năng lượng cung cấp protit:
Lượng
prôtit tồn tại trong cơ thể rất ít, khi dinh
dưỡng đầy đủ số lượng đó rất nhỏ (
khonảg 1%). Lượng prôtit trong cơ thể mỗi ngày
có nhu cầu thay mới 3%, trong đó có một số
protit tái tạo từ sự phân giải các protit
trong cơ thể, có một số lấy từ thức ăn ăn
vào. Do đó mỗi ngày cần phải cung cấp một
lượng protit nhất định mới có thể thoả mãn
được nhu cầu của cơ thể. Cung cấp không
đầy đủ sẽ tạo nên sự thiếu protit, cung
cấp quá nhiều thì protit dư thừa sau khi phân
giải sẽ theo nước tiểu thải ra ngoài. Nh
vậy không những lãng phí protit mà còn tăng gánh
nặng cho gan, thận. Lượng protit đưa vào cần
thoả mãn sự cân bằng ni tơ của cơ thể.
Mỗi ngày hàm lượng nitơ của protit đưa vào
cơ thể và lượng ni tơ thải ra phải bằng
nhau. Ðó gọi là sự cân bằng nitơ. Nitơ đưa
vào nhiều hơn thải ra là lượng nitơ dương tính,
ngược lại là ni tơ âm tính. Lượng nitơ
của protit là 16%, hệ số giữa nitơ và protit
là 6,25.
Có
hai yếu tố ảnh hưởng đến sự cung cấp
protit. Một là trạng thái sinh lý của cơ
thể. Ví dụ, thời kỳ sinh trưởng và phát
dục, thời kỳ cho con bú, thời
kỳ
lành bệnh, lúc lao động nặng... là lúc cơ
thể tăng nhu cầu protit. Hai là chất lượng
protit đưa vào cơ thể. Khi protit có giá trị
sinh học cao thì chỉ cần một lượng nhỏ; ngược
lại, chất lượng protit kém thì cần nhiều hơn.
Lượng
protit cung cấp cho vận động viên cao hơn người
bình thường. Vận động viên tuổi trưởng thành
cần 1,8-2g protit/kg thể trọng; vận động viên
thiếu niên: 2-3g/kg; vận động viên nhi đồng:
3-3,4g/kg. Lượng protit cung cấp cho vận động
viên mỗi ngày chiếm 15-20% tổng năng lượng
cung cấp cho họ. Protit là nguồn năng lượng
được ưu tiên trong ba chất cung cấp năng
lượng. .
LIPIT
(MỠ)
1.
Cấu tạo và phân loại
Lipit
bao gồm mỡ và các chất dạng mỡ, cấu tạo
từ hydro, oxy, photpho.
Lipit
phân huỷ thành axit béo và glyxerin. Có nhiều
loại axit béo. Dựa vào cấu tạo phân tử người
ta chia ra hai loại - axit béo không no và axit béo
no.
Những
axit béo lấy từ thức ăn gọi là axit béo
cần thiết.
2.
Công dụng dinh dưỡng
Cung
cấp năng lượng. Lipit
là nguồn cung cấp năng lượng cao. Một gam
lipit
đốt cháy cho 9,4 Kcal. Lipit tích luỹ trong cơ
thể là kho dự trữ lớn của cơ thể.
Cấu
tạo của tổ chức cớ thể. Lipit
là thành phần cấu tạo quan trọng của
nguyên sinh chất, nhân và màng tế bào. Mô mỡ
cố định các cơ quan nội tạng
để
tránh va chạm khi vận động. Lipit còn có tác
đụng giữ nhiệt cho cơ thể.
Cung
cấp axit béo cần thiết. Axit
béo cần thiết trong cơ thể cô chức năng
sinh lý rất quan trọng, là thành phần của ty
lạp thể và mô tế bào, là nguyên nhân tạo
thành các hocmon có tác đụng thúc đẩy quá trình
dinh dưỡng phát dục. Axit béo còn liên quan đến
chuyển hoá colesterol, phòng ngừa bệnh tim
mạch.
Lipit
là dung môi hoà tan nhiều vitamin và nhiều
chất sinh. học quan trọng khác.
Mỡ
làm tăng vị thơm của thức ăn và cảm giác
no.
3.
Ðánh giá giá trị dinh dưỡng của lipit trong
thức ăn
Có
nhiều loại mỡ và giá trị dinh dưỡng của
chúng rất khác nhau. Giá trị dinh dưỡng của
mỡ do các yếu tố sau đây quyết định:
a.
Tỉ lệ các loại axit béo
Axit
béo no, ngoài việc cơ thể sử dụng để cung
cấp năng lượng, nó còn chuyển hoá thành đường
và protit.
Axit
béo không no, đặc biệt là axit béo cần
thiết chỉ có thể được cung cấp từ
thức ăn. Do vậy chất glyxerin của axit béo
cần thiết có giá trị dinh dưỡng cao. Trong
dầu ăn thực vật, lipit chuyển hoá thành axit
béo không no; còn mỡ trong thức ăn động vật
chuyển hoá thành axit béo no, nên dễ gây xơ
cứng động mạch. Bảng 9: trình bày tỉ lệ
axit béo no và không no trong các loại mỡ.
Bảng
9. Tỉ lệ axit béo và hiệu suất tiêu hoá
của mỡ
|
Các
loại mỡ
|
Axit
béo no (%)
|
Axit
béo không no (%)
|
Ðộ
sôi
|
(%)
|
Hiệu
suất tiêu hoá (%)
|
|
Dầu
hạt bông
Dầu
lạc
Dầu
hạt cải
Dầu
đậu
Mỡ
trong sữa
Mỡ
lợn
Mỡ
dê
Mỡ
bò
|
25
20
6
13
60
42
57
53
|
75
80
94
87
40
58
43
47
|
Thấp
hơn
nhiệt
độ
trong
phòng
28-36
36-50
44-53
| |