|
I.
CHẤT TINH BỘT VÀ HOẠT ĐỘNG THỂ LỰC
1.
Chuyển hoá năng lượng trong quá trình tập
luyện
Khi
cơ bắp, ví dụ cơ tứ đầu đùi, từ trạng
thái nghỉ ngơi hoàn toàn chuyển sang hoạt động
tối đa, thì tiêu hao năng lượng có thể tăng
lên gấp 300 lần. Tương tự các loại động
cơ, năng lượng dưới dạng hoá năng (xăng
dầu) được chuyển thành cơ năng (xe chạy) và
một phần toả nhiệt. Nguồn năng lượng tức
thời cho cơ hoạt động là ATP (axit adenosin
triphotphat).
Tuy
nhiên nguồn dự trữ ATP của cơ rất ít
(5,5mmol/kg) và tiêu hao nhanh chóng trong những giây
phút hoạt động đầu tiên. Nó phải được
tổng hợp liên tục khi các tế bào cơ chuyển
hoá glycogen và các axit béo với sự có mặt
của oxy (chuyển hoá ưa khí - aerobic
metabolism). ATP còn có thể được tổng hợp
bằng con đường yếm khí (không có oxy -
anaerobic metabolism), và chỉ
có
glucoza, glycogen được sử dụng với hiệu
quả thấp hơn = tạo ra 3 ATP thay vì 38, 39 ATP
trên mỗi đơn vị glucoza được oxy hoá. Như
vậy hai nguồn dự trữ năng lượng chính của
cơ thể là glycogen và chất béo. Trong đó dự
trữ glycogen trong cơ và gan chỉ ở mức độ
hạn chế - một người nặng 70kg, bình thường
có dự trữ glycogen là 300-500g tại cơ và
70-150g tại gan; ngược lại, dự trữ mỡ trong
các hoạt động thể thao thực tế coi như là
vô hạn, kể cả các vận động viên gầy
nhất (7-10% mỡ). Sự mệt mỏi, kiệt sức
chủ yếu liên quan đến sự cạn kiệt dự
trữ glycogen.
Bảng
1. Dự trữ năng lượng dưới dạng mỡ và
glycogen ở đàn ông nặng 70kg (Newsholme và
Leech, 1983)
Nguồn
dự trữ
|
E,
năng lượng
|
Thời
gian chạy (phút)
|
Cự
ly (Km)
|
|
Mô
mỡ
|
337.500
|
4.018
|
0,880
–1,008
|
|
Glucogen/gan
|
1.160
|
20
|
4,8-6,4
|
|
Glucogen/cơ
|
5.880
|
71
|
16-22,4
|
|
Glucoza/máu
|
48
|
<1
|
|
Các
yếu tố quyết định việc sử dụng loại nhiên
liệu nào - glycogen hay chất béo - phụ thuộc vào
cường độ, thời gian tập ngắn hay dài, tình
trạng tập luyện (đã quen hay lạ), chế độ
ăn... (Hargreaves, 1991). Cường độ tập hay
thi đấu càng cao như bóng đá, bóng rổ,...
dựa chủ yếu vào nguồn glycogen. Thời gian thi
đấu càng dài, như chạy maratông, đua xe đạp
đường trường, tỷ lệ năng lượng do
glycogen cung cấp giảm dần và chất béo cung
cấp năng lượng ngày càng tăng lên, tăng đến
50%. Ðiều đó là do lượng glycogen hao hụt
dần và khả năng sử dụng axit béo tăng lên.
Tập luyện buộc các cơ hoạt động nhận
nhiều oxy từ máu đưa tới và quá trình
chuyển hoá năng lượng ưa khí tăng, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc sử dụng thêm các
axit béo tự do và tiết kiệm lượng glycogen
chỉ có hạn chế trong cơ thể.
Tuy
nhiên không bao giờ chất béo là nguồn nhiên
liệu duy nhất. Ngược lại, các loại hình đòi
hỏi thời gian thi đấu cực ngắn, như nhảy
cầu, nhảy xa, ném tạ, ... chủ yếu sử dụng
ATP, creatin photphat. Nếu thời gian đài hơn chút
nữa thì dựa hoàn toàn vào chuyển hoá yếm khí
và sau đó là la khí glycogen. Thí dụ, chạy 2
phút (800m) thì 50% năng lượng từ chuyển hoá
yếm khí và 50% năng lượng từ chuyển hoá ưa
khí.
Cần
chú ý là, bất cứ hoạt động nào được
thực hiện đều sử dụng và làm
hao
hụt dự trữ glycogen. Cường độ hoạt động
càng cao, thời gian hoạt động càng dài đòi
hỏi càng nhiều dự trữ glycogen để liên
tục tổng hợp ATP cung cấp đủ năng lượng
cực lớn. Nếu không đủ năng lượng, cách đuy
nhất để cân
bằng
là cường độ và thời gian vận động sẽ
giảm xuống.
Ðiều đó cũng có nghĩa là, nếu dự trữ
glycogen không đầy đủ thì khả năng thực
hiện vận động ở mức độ cao sẽ bị ảnh
hưởng. Ðiều này không chỉ quan trọng trong các
cuộc thi đấu, mà còn cần thiết cho các được
tập luyện. Bởi vì chỉ có qua tập luyện thành
tích mới được nâng dần lên và điều đó
chỉ thực hiện được nếu cơ thể dự trữ
tốt glycogen trước mỗi được tập luyện.
2.
Vai trò của glycogen trong tập luyện
Mỗi
khi tập luyện glycogen trong các cơ hoạt động
bị hao hụt dần, mà số lượng dự trữ chỉ
có hạn, do vậy dự trữ glycogen cần được
phục hồi trước mỗi được tập luyện.
Nếu dự trữ glycogen chưa được phục
hồi, được tập luyện bắt đầu với lượng
dự trữ glycogen thấp, chắc chắn chất lượng
và số lượng bài
tập
sẽ giảm. Nếu việc phục hồi dự trữ
glycogen không được thực hiện liên tục sau
nhiều buổi tập sẽ dẫn đến cạn kiệt
glycogen trong cơ và việc thực hiện các bài
tập nhẹ nhàng nhất cũng trở nên khó khăn.
Cảm giác mệt mỏi, đau nhức cơ, hoặc không
phục hồi sức lực giữa các được huấn
luyện và hội chứng tập luyện quá sức có
thể hoàn toàn do việc cố gắng tập luyện mà
thiếu sự tái dự trữ glycogen đầy đủ trước
các được tập.
Vai
trò quan trọng của glycogen và đường huyết
(glucoza/máu) trong hoạt động thể lực được
chứng minh bởi nhiều công trình nghiên cứu.
Người ta thấy rằng, dự trữ glycogen/cơ và
việc cung cấp glucoza trong quá trình tập
luyện giúp tăng cường độ và thời gian
thực hiện vận động: Do vậy việc phục
hồi dự trữ glycogen sau các được tập
luyện là quá trình chuyển hoá chủ yếu trong
giai đoạn phục hồi của cơ thể. Tập luyện
kích thích tổng hợp glycogen tại cơ, nhưng
việc phục hồi dự trữ trong giai đoạn phục
hồi của cơ thể phụ thuộc vào lượng tinh
bột trong thức ăn (Hargreaves, 1991).
3.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phục
hồi dự trữ glycogen
Yếu
tố trước tiên ảnh hưởng đến tốc độ tái
tổng hợp glycogen là loại và
số lượng hydrat cacbon ăn vào cùng như
thời gian ăn vào. Glycogen/cơ tiêu hao toàn bộ
sau 2-3 giờ hoạt động liên tục ở cường độ
khá cao (60-80% Vo2max), hoặc sau 15-30 phút hoạt
động ở cường độ quá cao (90=130%Vo2 max)
với 1-5 phút hoạt động và nghỉ, lại hoạt
động tiếp (khúc côn cầu... ) (Coyle, 1991.)
Vận động viên tập quyền hằng ngày cần tăng
lượng tinh bột ăn vào để tránh tình trạng
mệt mỏi, tập luyện quá sức, thực hiện
vận động kém.
Glycogen
dự trữ trong cơ với tốc độ khoảng 5% mỗi
giờ, vì vậy sau mỗi được tập hết sức
cần 20 giờ để hồi phục hoàn toàn. Trong 2
giờ đầu sau tập luyện glycogen tổng hợp
với tốc độ nhanh - 7%/1giờ. Vận động viên
cần nhận đủ lượng tinh bột trong thời gian
này. Thông thường là 50g cho người nặng 70kg
trong vòng 2 giờ đầu (điều chỉnh theo trọng
lượng cơ thể).
4.
Khuyến nghị về chế độ ăn khi tập luyện
Hầu
hết các chuyên gia về dinh dưỡng thể thao đều
khuyến nghị lượng
hydrat
cacbon nên chiếm 60-70% năng lượng khẩu phần.
Ðối với vận động viên tập luyện nặng
nhu cầu hydrat cacbon là 8-10g/kg trọng lượng cơ
thể.
Ðiều
này cũng phù hợp trong dinh dưỡng hợp lý cho tất cả mọi người,
nhất là thanh niên.
Các
loại tinh bột hay đường khác nhau có tác
dụng tái dự trữ glycogen
tương
tự nhau. Vận động viên tập luyện nặng và
kéo dài thì nhu cầu năng lượng rất cao, nếu
ăn nhiều tinh bột sẽ không nhận đủ lượng
do tinh bột hút
nước,
cồng kềnh mà ít năng lượng, nên đượcư
khuyến cáo dùng nhiều đường,
thường
dưới dạng nước ngọt để cung cấp đủ năng
lượng. Ví dụ, vận động viên đua xe đạp
đường trường, nhu cầu năng lượng lên đến
5.000-6000 kcal/ngày, trong đó 50% nhu cầu được
cung cấp bởi các loại nước ngọt.
Vận
động viên có nhu cầu năng lượng thấp hơn
thì nguồn hydrat cacbon nên là tinh bột, trái cây
và nước ép trái cây là chính. Ða số vận động
viên không chấp nhận thức ăn đặc ngay sau
tập luyện do vậy các loại nước uống có
glucoza, sucroza hoặc maltodextrin 6-10% trong 2 giờ
đầu dễ được chấp nhận hơn. Sau đó
cần tiếp tục cung cấp 50g hydrat cacbon/mỗl 2
giờ hoặc thực tế hơn là thay bằng bữa ăn
có đầy đủ lượng tinh bột cho thời gian dài
hơn. Ví dụ, 150g/6giờ hoặc 250g/1ogiờ (Coyle,
1991).
Tuy
nhiên, việc hướng dẫn chế độ ăn cần phù
hợp với thói quen ăn uống của từng vận động
viên thì chế độ ăn mới được tuân thủ.
Ngoài ra vận động viên cũng gặp nhiều khó
khăn trong việc mua - chế biến - tồn trữ -
mang đồ ăn - ăn số lượng thức ăn lớn
trong quá trình tập luyện. Thông thường tập
2 buổi mỗi ngày, mỗi buổi khoảng 2 giờ và
không tập trước 1-2 giờ sau bữa ăn chính.
Nhiều khi vận động viên không sắp xếp đwợc
về mặt giờ giấc và phải bỏ bữa. Các
thức ăn chế biến sẵn giàu năng lượng,
thuận tiện trong sử dụng sẽ hỗ trợ đắc
lực cho việc đảm bảo đủ nhu cầu.
5.
Khuyến nghị trong quá trình chuẩn bị thi đấu:
Vấn
đề dinh dưỡng quan trọng nhất đối với
giai đoạn này là đảm bảo cho vận động viên
phục hồi hoàn toàn sau giai đoạn tập luyện
với lượng dự trữ glycogen ít nhất là bằng
mức bình thường trước trận đấu.
Người
ta tìm nhiều chế độ ăn và tập luyện khác
nhau để năng lượng dự
trữ
glycogen/cơ lên cao hơn mức bình thường, cao
nhất có thể tới 2000 là có thể đạt kết
quả tối đa trong thi đấu dựa vào cơ chế
"bù quá mức" (super compensation) của cơ.
Phương
pháp cổ điển là, một tuần trước khi thi đấu
cho vận động viên tập hết sức 2 lần/ngày;
tiếp theo 3 ngày cho ăn thực đơn nghèo
hyđrat cacbon (20 30%) và giàu lipit (40-50%);
tập vừa phải dẫn đến sự cạn kiệt dự
trữ glycogen. Trong 4 ngày trước khi thi đấu
cho chế độ ăn giàu hydrat cacbon (75-80%). Ba ngày
đầu tập nhẹ nhàng và ngày cuối cùng nghỉ
tập hoàn toàn giúp tăng dự trữ glycogen
(Bergstrom et al 1967, Astrand, 1967).
Tuy
nhiên gần đây nhiều tác giả cho rằng, phương
pháp này nếu tổ chức và quản lý việc ăn
uống không chặt chẽ sẽ dẫn đến nạp
glycogen không đủ (Wootton et al 1981). Do vậy
nhiều nhà dinh dưỡng học thể thao khuyến cáo
các vận động viên nên ăn chế độ ăn đủ
hydrat cacbon (60-70%) hàng ngày và lên kế hoạch
tập luyện như đã nêu trên, cùng với chế
độ ăn giàu hydrat cacbon (75-80%) vào 1-3 ngày
cuối, tuỳ loại hình thi đấu để tăng dự
trữ glycogen (Sherman, 1983).
Tăng
dự trữ glycogen không những hữu ích đối
với các cuộc thi kéo dài như chạy maratông,
xe đạp đường trường..., mà còn có tác
dụng tất với các cuộc thi đấu ngắn hơn,
nhưng thi nhiều lần trong một được thi,
nhằm giảm
tiêu
hao liên tục sau mỗi trận đấu.
Sự
gia tăng dự trữ glycogen cao hơn mức bình thường
cũng cải thiện kết quả thi đấu ở các môn
có gắng sức lớn trong thời gian ngắn
(Plaughan, 1990).
Yếu
tố bất lợi duy nhất của việc tăng dự
trữ glycogen là tăng trọng lượng cơ thể.
Cảm giác "căng" cơ là do lg glycogen
gắn với 2,7g nước và 0,45mmol cacbonat kali. Ðiều
này đặc biệt có ý nghĩa đối với các môn
thể thao xếp hạng cân nặng vận động viên.
Bữa
ăn cuối cùng trước trận đấu trên 2 giờ
dựa chủ yếu vào chất tinh bột ít chất béo,
ít đạm, ít xơ và dễ tiêu hoá, tránh gây khó
chịu cho đường tiêu hoá. Thông thường các
chuyên gia dinh dưỡng đề nghị sử dụng
200-300g chất tinh bột trong 4 giờ trước khi
thi đấu; một số khác đề nghị lg/kg thể
trọng 1 giờ trước khi thi và 4,5g/kg thể
trọng trong 4 giờ trước đó. Các cuộc thi kéo
dài trên 2 giờ cần cung cấp đường tiếp
tục trong thời gian thi đấu. Việc ăn chất
tinh bột ngay trước và trong thi đấu có tác
dụng tốt được ghi nhận trong nhiều nghiên
cứu gần đây. Các quan niệm cho rằng ăn đường
trước trận đấu làm tăng insulin dẫn đến
hạ đường huyết sau đó và ảnh hưởng đến
kết quả thi đấu là không có cơ sở (Coyle,
1991).
Việc
tiếp tục cung cấp các loại hydrat cacbon trong
các cuộc thi kéo dài và nhiều được ở cường
độ cao nhằm đảm bảo đủ nhu cầu hydrat
cacbon cho các giai đoạn sau của cuộc thi, khi
dự trữ cạn kiệt dẫn đến mệt mỏi trầm
trọng
và giảm khả năng thi đấu. Tất nhất nên
cung cấp hydrat cacbon đều đặn trong suốt
thời gian thi đấu (nếu cho phép) hơn là chờ
cho tới khi có dấu
hiệu
mệt nhọc. Các loại đường như glucoza,
sucroza, maltodextrin có hiệu quả tương tự nhau
trong đề phòng sự mệt nhọc. Trong đa số trường
hợp, các loại thức uống dạng lỏng dễ được
chấp nhận hơn thức ăn đặc. Số lượng
uống và nồng độ đường phụ thuộc vào
từng tình huống, sở thích, thói quen và nhu
cầu bù nước. Các loại nước uống có lượng
đường cao (ưu trương) làm giảm hấp thu nước,
do vậy trong nhiều trường hợp cần phân
biệt rõ vận động viên bị mệt nhọc là do
thiếu nhiên liệu (glycogen) hay do bị thiếu nước
để cung cấp loại nước có nồng độ phù
hợp. Thông thường các thức uống cho vận động
viên "sport drinks" có lượng đường là
5-10%.
|