|
A. KHÁI QUÁT VỀ DINH DƯỠNG VÀ THỂ
DỤC THỂ THAO
Cuộc sống càng văn minh hiện đại thì
hoạt động thể lực càng có xu hướng
giảm mạnh, đặc biệt ở các đô thị và thành
phố lớn. Người ta đi lại bằng các phương
tiện vận chuyển thay cho đi bộ, đi xe đạp;
thăm hỏi nhau bằng điện thoại; các phương
tiện giải trí thụ động ngày càng phát
triển với ti vi, video, karaoke, trò chơi điện
tử, rồi máy giặt thay cho giăt bằng tay...
Ngay cả công việc cũng dần dần được cơ
giới hoá, tự động hoá. Ðiều đó dẫn đến
hậu quả bất lợi đối với sức khoẻ tỉnh
thần và thể chất.
Tăng cường hoạt động thể lực, trong
đó có thể dục thể thao, có vai trò phòng các
bệnh mãn tính như béo phì, bệnh mạch vành,
cao huyết áp, tiểu đường không phụ thuộc
insulin, loãng xương, ung thư đại tràng, làm
giảm sự căng thẳng, tránh suy nhược và
trầm uất,... Viện Y học của Mỹ cho biết, có
250.000 ca tử vong mỗi năm (tức là 12% tổng
số tử vong tại Mỹ) là do ít hoạt động
thể lực gây nên. Việc tăng hoạt động thể
lực làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành, tăng
HDL-cholesterol, giảm triaxylglyxerol, giảm huyết
áp, cải thiện quá trình fibrinolysis, giảm
kết dính tiểu cầu, do vậy giảm thrombosis,
cải thiện sự dung nạp đường và sự nhạy
cảm với insuhn, giảm sự nhạy cảm
của cơ tim đối với catecolamin, do đó
giảm nguy cơ loạn nhịp tim. Ngoài ra, nhờ
hiệu quả của tập luyện và dinh dưỡng làm
tăng mật độ xương, tránh loãng xương và có
thân hình cân đối, cân nặng hợp lý. Chỉ
cần hoạt động ở mức độ vừa phải, như
đi bộ nhanh 30 phút, bơi với cường độ vừa
và liên tục trong 20 phút, đạp xe đạp 60 phút
với 3-4 lần mỗi tuần, hoặc thực tế hơn là
đi hơn 10 nghìn bước mỗi ngày, các hoạt động
ngắn khoảng 8-10 phút mỗi lần, nhưng nhiều
lần trong ngày và tổng cộng lại khoảng 30 phút
với 5-6 lần mỗi tuần, cũng có hiệu quả tăng
cường sức khoẻ, làm cân đối hình thể. Các
hoạt động này không đòi hỏi chế độ ăn
đặc biệt, mà vẫn là thực hiện cách ăn
uống hợp lý bình thường.
Nội dung sách đề
cập chủ yếu tới đinh dưỡng trong tập
quyền và thi đấu thể
thao đòi hỏi cường độ cao và rất cao, sự
gắng sức tột bậc để đạt được thành tích
cao mà sự sai biệt về kết quả chỉ cần
10/0 đã dẫn đến sự khác xa nhau về thứ
hạng, xếp loại.
Từ thời La Mã và Hy Lạp người ta đã
quan tâm đến việc ăn uống để đạt thành tích
tối đa trong thi đấu. Nhưng việc nghiên cứu
thực sự khoa học về vai trò và nhu cầu các
chất dinh dưỡng trong hoạt động thể thao
mới chỉ được tiến hành vào thế kỷ 19,
với các công trình nghiên cứu của nhà sinh lý
học người Ðức Von Liebig (1842). Von Liebig cho
rằng, protein của cơ bắp là nguồn cung cấp năng
lượng chính trong hoạt động thể lực. Ngày
nay kết luận đó đã được chứng minh là hoàn
toàn sai lầm. Nguồn năng lượng chính cho
hoạt động thể lực là cacbon hydrat và thứ
đến cơ thể là chất béo. Tuy nhiên trên
thực tế, nhiều vận động viên và huấn
luyện viên thực hiện việc ăn uống theo Von
Liebig và theo các quan niệm của thế kỷ trước
hơn là dựa vào
các nghiên cứu của thế kỷ 20.
Các môn thể thao rất đa dạng và rất
khác biệt về mức độ gắng sức và thời
gian kéo dài sự gắng sức đó. Mỗi loại hình
đều có các yêu cầu khác nhau về cách ăn
uống mà không thể đề cập hết tại đây.
Tuy nhiên có hai nguyên tắc chủ yếu trong dinh
dưỡng thể thao liên quan đến
hầu hết các loại hình thể thao. Ðó là:
1/ Ăn đủ lượng tinh bột (hydrat cacbon)
để đảm bảo đủ lượng glycogen/cơ trong quá
trình tập luyện và thi đấu.
2/ Uống đủ lượng nước để đảm
bảo chức năng điều nhiệt trong suốt thời
gian hoạt động.
|