|
|
Chấn
thương trong thể thao |
|
|
|
PHẦN
5: RỐI LOẠN NỘI
TIẾT VÀ CÁC TỔN THƯƠNG HỆ CƠ XƯƠNG
|
|
Thể
dục từng được coi là tác nhân kích thích
mạnh làm thay đổi nồng độ trong tuần hoàn
của nhiều loại hormon khác nhau (Galbo, 1983).
Kết cục là sự ổn định nội mô của hệ
nội tiết có thể bị xáo trộn nhiều giờ,
thậm chí vài ngày sau luyện tập, miễn là do
thời gian và cường độ (Dufaux và cộng sự,
1981; Dessypris và cộng sự 1985; Kuoppasalmi và
Adlercreutz, 1985; Keizer và cộng sự, 1989).
Mặc
dù việc thích nghi với luyện tập chưa phải
là một quá trình được hiểu rõ, nhưng một
chứng cớ ngày càng rõ là ở đây hệ nội
tiết đóng một vai trò quan trọng. Điều này
được chứng minh bằng sự chậm lớn biểu
hiện ở những người chơi tenis còn trẻ trong
thời kỳ tập luyện căng thẳng quá mức
(Laron và Klinger, 1989). Sự lớn vẫn bị chậm
lại không ngừng, nhưng khi những cậu bé đó
bị thương nặng (nghĩa là không tiếp tục
luyện tập trong thời gian dài hơn), thì xuất
hiện sự tăng tốc lớn bù. Sự chậm lớn
rất có khả năng là do ức chế kiểu tiết bình
thường theo giai đoạn của hormon trưởng thành
vào ban đêm. Chứng cớ ủng hộ giả thuyết này
là sự biến mất kiểu tiết bình thường theo
giai đoạn một hormon tuyến yên khác có tên
gọi hormon lutein hóa (LH) sau thời gian luyện
tập hết sức (Keizer và cộng sự, 1989b). Ngược
lại, một chương trình luyện tập được trù
tính hợp lý hình như làm tăng biên độ các
đỉnh hormon trưởng thành về đêm, cả ở trên
chuột hamster và có thể trên người (Borer và
cộng sự, 1986). Tuy nhiên, ở trường hợp sau
sự tăng này chỉ xuất hiện khi cường độ
luyện tập bằng hoặc hơi vượt trên mức
gọi là ngưỡng kỵ khí (kèm theo mức thành tích
cao hơn). Nó khiến cho người ta nghĩ rằng hệ
nội tiết đóng một vai trò quan trọng trong
sự thích nghi này. Một vài tác giả (De
Meirleir và cộng sự, 1986; Keizer và cộng sự,
1987) đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa
mức cao hơn của hormon stress và cường độ
luyện tập. Điển hình, điều này chỉ xuất
hiện ở cường độ lớn hơn 70% VO2
max, nghĩa là đang hoặc trên ngưỡng lactat. Hơn
nữa, phải đề cập tới hormon stress, thí dụ
catecholamine và cortisol (C), tác động trên sự
dị hóa, nghĩa là làm tăng sự giải phóng năng
lượng để đáp ứng những đòi hỏi ngày càng
tăng của cơ thể trong kiểu luyện tập đó.
Trong thời kỳ hồi phục, có thể sẽ cố
gắng khôi phục lại sự hằng định nội môi
tới một chừng mực nhất định, mà số lượng
stress tương tự không có khả năng làm nhiễu
loạn hệ thống này hơn nữa.
Hệ
nội tiết cũng đóng một vai trò quan trọng
trong sự trao đổi năng lượng sau khi luyện
tập, điều này phù hợp với mức độ quá trình
hồi phục. Tuy nhiên, vai trò chính xác của các
hormon khác nhau trong cơ chế liên quan đến sự
thích nghi vẫn chưa được làm sáng tỏ. Không
phải chỉ có một hormon duy nhất thực hiện
cả dị hóa lẫn đồng hóa, mà có sự hoạt
động phối hợp của một loạt hormon qui định
sự đáp ứng của tế bào. Hiện nay, người
ta còn ít hiểu biết liệu những thay đổi
trong chức năng của hệ bài tiết có góp
phần làm xảy ra những thương tổn do thể
thao. Tuy nhiên, chương này sẽ cố gắng soi sáng
thêm vấn đề này. Vì có quá nhiều loại đáp
ứng hormon đối với việc luyện tập, chúng tôi
sẽ tập trung chủ yếu vào những ảnh hưởng
của hormon steroid trên cơ và mô xương.
|
|
|
|
NHỮNG
THAY ĐỔI TRONG CÁC HORMON GIỚI TÍNH VÀ NHỮNG
TỔN THƯƠNG THỂ THAO Ở PHỤ NỮ
Điều
nhận thấy rõ ràng ở các vận động viên
nữ thường xuyên tham gia luyện tập thể thao
nặng là chu kỳ kinh nguyệt có thể thay đổi
và kéo theo sự thay đổi nồng độ các hormon
giới tính trong tuần hoàn (Baker và cộng sự,
1981; Boneu và Keizer, 1984; Loucks và Horrath, 1985;
Keizer và Rogol, 1990). Ở những vận động viên
chạy bị chứng ít kinh nguyệt và mất kinh, đã
tìm thấy kích tố nữ thấp trong huyết tương
và các nồng độ C thường xuyên tăng lên. Cùng
với sự tăng C do tập luyện gây ra, điều này
cũng làm cho những phụ nữ này dễ bị các
tổn thương xương cơ. Bằng chứng cho giả
thuyết này đã được Lloyd và các cộng sự
(1986) chứng minh; ông đã cho thấy một chỉ
số tổn thương cơ xương cao hơn gần như
tới 3 lần ở những vận động viên chạy có
kinh nguyệt ít/mất kinh khi so sánh với những
người làm chứng có kinh bình thường. Hơn
nữa, có nhiều dấu hiệu cho thấy rằng
chứng mất kinh và ít kinh nguyệt thứ cấp liên
quan với tỷ lệ cao hơn sự mất khoáng xương
và gẫy xương do nén ép (Drinkwater và cộng
sự, 1984; Marcus và cộng sự, 1986; Louis và
cộng sự, 1991).
Mặc
dù đó là chủ đề từng gây tranh cãi trong
nhiều năm, hiện nay các hiện tượng kinh
nguyệt không đều phần nào được coi là sự
biểu hiện của việc tập luyện quá mức (De
Cree, 1990; Keizer và Rogol, 1990). Quan điểm này
đã được một số tác giả chứng minh. Thí
dụ, Bullen và cộng sự (1984) cho thấy rằng
luyện tập chịu đựng vừa phải trong 8 tuần
liền không làm ảnh hưởng đến chu kỳ kinh
nguyệt đều ở phụ nữ. Nghiên cứu mở
rộng công trình này (Bullen và cộng sự, 1985)
cho thấy những biến đổi chu kỳ kinh nguyệt
gây nên do cảm ứng ở hầu hết những người
tình nguyện khi khối lượng luyện tập quá
cao (3-4 giờ mỗi ngày). Các tác giả đã tin
chắc vào giả thuyết là trục dưới đồi
tuyến yên có thể bị ảnh hưởng. Veldhuis và
cộng sự (1985) đã ủng hộ quan điểm này. Ông
đã phát hiện ra tần số đỉnh
LH giảm và phản ứng thay đổi trong
hormon giải phóng chất hướng sinh dục ở các
vận động viên chạy nhảy, mất kinh nguyệt.
Hơn nữa, công trình của Keizer và cộng sự
(1989b) cho thấy sự giải phóng LH yếu đi sau
khi tập luyện kiệt sức (3-4 giờ mỗi ngày
trong vòng 3-4 ngày liền) ở những nữ vận động
viên kinh nguyệt đều (Hình 7.3). Do vậy, chúng
tôi đưa ra kết luận rằng phụ nữ tích cực
luyện tập không đều về kinh nguyệt thì có
xu hướng phát triển gãy xương do nén ép và
quá nhiều những tổn thương khác. Vì thế,
những phụ nữ này cần được điều trị
bằng thuốc uống tránh thụ thai. Thêm vào đó,
những phụ nữ bị tổn thương cơ xương thường
xuyên cần được đánh giá về tình trạng
kinh nguyệt, chương trình luyện tập và nuôi dưỡng.
Rất
ít tài liệu có giá trị ảnh hưởng của giai
đoạn trong chu kỳ kinh nguyệt và sự xuất
hiện những tổn thương do thể thao. Lamon và
cộng sự (1987) nhận thấy rằng sự bài tiết
urê nước tiểu cơ bản cao hơn trong giai đoạn
cao hơn giữa kỳ lutein so với giai đoạn nang
noãn sớm. Landau và Lugibihl (1961) đã có thể
liên hệ ảnh hưởng dị hóa này với
progesteron. Tuy nhiên, rất ít những nhà quan sát
đã nghiên cứu mối liên quan giữa các giai đoạn
chu kỳ kinh nguyệt và tỷ lệ tổn thương.
Mới đây, Möllner-Nielsen và Hammar (1989) đã
chứng minh rằng những cầu thủ bóng đá dễ
bị chấn thương hơn trong giai đoạn trước
kinh nguyệt và lúc có kinh nguyệt. Thêm nữa,
những nhà nghiên cứu này quan sát thấy tỷ
lệ tổn thương ở những người phụ nữ
uống thuốc chống thụ thai là thấp hơn. Họ
giải thích những phát hiện này bằng một
thực tế là giai đoạn trước kinh nguyệt và
lúc có kinh nguyệt tác động tới khả năng điều
phối hoạt động và trạng thái tính tình.
Thuốc uống chống thụ thai cải thiện hầu
hết các triệu chứng trước kinh nguyệt. |
|
|
|