CÁC
LOẠI SỢI
Những
cơ có đường khía khác nhau biểu thị cho tính
đa dạng của cấu trúc ở cả hai mức độ
bệnh sử hay mức độ siêu cấu trúc. Cũng có
khác biệt trong sự phân bổ dây thần kính,
sinh lý, hoá sinh và sự tuần hoàn. Hai loại chính
của các dạng sợi được nhận biết như là
phân biệt rõ về cấu trúc, sinh lý và chuyển
hoá ( Gauthier, 1986)
Loại
I, những sợi oxy hoá co-chậm (SO) có thời gian
co chậm nhất và lượng glycogen và các enzym
glycolytic thấp nhất. Chúng giàu các ti thể và
myoglobin, và chúng hoàn toàn chịu được sự
mệt mỏi. Về hình thái học, sợi cơ vân
chứa dải Z rộng. Loại Iia hay sợi oxy hoá
nhanh (FOG) có thời gian co nhanh hơn loại sợi
I. Thêm vào đó chúng chứa ti thể và myoglobin
cao hơn các loại sợi Iib. Về sinh lý học, chúng
chịu được mệt mỏi nhiều hơn loại sợi
Iib. Chúng có myosin adenosin triphosphat cao và
mức độ cao glycogen, enzymes õy hoá, và
glycogen. Về hình thái học, dải Z của chúng hơi
hẹp hơn ở dạng
sợi I. Dạng sợi Iia là dạng sợi trung gian vì
nó có cả hai thể của myosin có trong loại I
va Iib. Hầu hết loài động vật có vú ăn
thịt, trong đó có con người cũng có loại Iic
hay sợi cực nhanh, mà hầu hết nổi bật ở cơ
hàm. Nó có duy nhất một myosin, có thể phân
biệt với hai thể sợi loại nhanh và chậm.
Khi sinh ra, tới 10% sợi cơ có thể là loại
Iic, nó giảm đi 2% sau 1 năm đầu. Vì vậy,
sợi Iic coi như là dạng sợi khôgn khác biệt
(Gollmick và Saltin, 1989). Một điều thú vị là
trong quá trình luyện tập cơ thể, các sợi
trong một vài cơ của vận động viên dai sức
có thể lên tới 10% (Gollmick và Saltin 1989)
Về
hoá sinh, cấu trúc protein của đơn vị cơ
bản cơ vân cũng được phân biệt Myosin,
tropomyosin và troponin có chất đồng phân riêng
biệt trong loại sợi khác nhau (Lowery và Risly,
1971) (Cummins và Pery, 1978). sự khám phá gần đây
cho thấy tính khác biệt nhiều trong protein hơn
là người ta chờ đón ban đầu. Nhiều hơn 3
loại sợi riêng biệt dường như có hàng
loạt cấu trúc chuỗi đồng phân protein cơ
bản đối với cơ chuyển động nhanh và chậm
(Gollmick và Saltin 1989)
Tuy
nhiên, hầu hết các cơ ở người có số lượng
cơ tối thiểu 50% co chậm và 50% co nhanh, một
vài cơ như cơ dép và cơ ba đầu đều có ưu
thế trội hơn của hoặc sợi ST hoặc sợi FT.
Cơ trương lực hay cơ tư thế thì thường
nằm gần xương và cơ tính chất của dạng
sợi I nhiều hơn như cơ dép. Ngược lại đối
với cơ tháp hay cơ co nanh thì nông hơn và có
tính chất giống loại sợi II ( Jốnhn và CS,
1973). Những phát hiện này có ảnh hưởng
tới sự vận động của cơ ở người. Ngwoif
có loại phần trăm sợi II cao ở cơ tứ đầu
đùi có thể sinh ra một lực duổi đầu gối
lớn hơn ở loại có dạng sợi II ít hơn (
Thorstensson và CS, 1976a). Giống như thế, các
vận động viên suất sắc trong các cuộc thi nước
rút có số phần trăm dạng sợi II cao hơn
trong khi những vận động viên chạy xuất
sắc dường như có loại sợi I chiếm ưu thế
( Komi và cộng sự, 1977; Saltin và CS, 1977).
|