Chống Dopping / Dinh dưỡng TT / Chấn thương trong TT

Chấn thương trong thể thao

PHẦN 4: NHỮNG TỔN THƯƠNG CỦA CƠ GÂN

Tổn thương mô mềm vẫn tiếp tục thách thức nghiên cứu của các nhà lâm sàng và khoa học cơ bản. Tổn thương đơn vị cơ - gân của các vận động viên có thể xuất hiện thông qua nhiều cơ chế. Sự hiểu biết cơ bản về những tổn thương là bước đi đầu tiên quan trong để ngăn chặn. Bài thảo luận sau đây phác thảo những hiểu biết hiện nay về sinh lý bệnh, cơ thể bệnh và các nghiên cứu về chức năng liên quan đến các tổn thương của vận động viên ở đơn vị cơ - gân.

CÁC LOẠI SỢI

Những cơ có đường khía khác nhau biểu thị cho tính đa dạng của cấu trúc ở cả hai mức độ bệnh sử hay mức độ siêu cấu trúc. Cũng có khác biệt trong sự phân bổ dây thần kính, sinh lý, hoá sinh và sự tuần hoàn. Hai loại chính của các dạng sợi được nhận biết như là phân biệt rõ về cấu trúc, sinh lý và chuyển hoá ( Gauthier, 1986)

Loại I, những sợi oxy hoá co-chậm (SO) có thời gian co chậm nhất và lượng glycogen và các enzym glycolytic thấp nhất. Chúng giàu các ti thể và myoglobin, và chúng hoàn toàn chịu được sự mệt mỏi. Về hình thái học, sợi cơ vân chứa dải Z rộng. Loại Iia hay sợi oxy hoá nhanh (FOG) có thời gian co nhanh hơn loại sợi I. Thêm vào đó chúng chứa ti thể và myoglobin cao hơn các loại sợi Iib. Về sinh lý học, chúng chịu được mệt mỏi nhiều hơn loại sợi Iib. Chúng có myosin adenosin triphosphat cao và mức độ cao glycogen, enzymes õy hoá, và glycogen. Về hình thái học, dải Z của chúng hơi hẹp hơn ở  dạng sợi I. Dạng sợi Iia là dạng sợi trung gian vì nó có cả hai thể của myosin có trong loại I va Iib. Hầu hết loài động vật có vú ăn thịt, trong đó có con người cũng có loại Iic hay sợi cực nhanh, mà hầu hết nổi bật ở cơ hàm. Nó có duy nhất một myosin, có thể phân biệt với hai thể sợi loại nhanh và chậm. Khi sinh ra, tới 10% sợi cơ có thể là loại Iic, nó giảm đi 2% sau 1 năm đầu. Vì vậy, sợi Iic coi như là dạng sợi khôgn khác biệt (Gollmick và Saltin, 1989). Một điều thú vị là trong quá trình luyện tập cơ thể, các sợi trong một vài cơ của vận động viên dai sức có thể lên tới 10% (Gollmick và Saltin 1989)

Về hoá sinh, cấu trúc protein của đơn vị cơ bản cơ vân cũng được phân biệt Myosin, tropomyosin và troponin có chất đồng phân riêng biệt trong loại sợi khác nhau (Lowery và Risly, 1971) (Cummins và Pery, 1978). sự khám phá gần đây cho thấy tính khác biệt nhiều trong protein hơn là người ta chờ đón ban đầu. Nhiều hơn 3 loại sợi riêng biệt dường như có hàng loạt cấu trúc chuỗi đồng phân protein cơ bản đối với cơ chuyển động nhanh và chậm (Gollmick và Saltin 1989) 

Tuy nhiên, hầu hết các cơ ở người có số lượng cơ tối thiểu 50% co chậm và 50% co nhanh, một vài cơ như cơ dép và cơ ba đầu đều có ưu thế trội hơn của hoặc sợi ST hoặc sợi FT. Cơ trương lực hay cơ tư thế thì thường nằm gần xương và cơ tính chất của dạng sợi I nhiều hơn như cơ dép. Ngược lại đối với cơ tháp hay cơ co nanh thì nông hơn và có tính chất giống loại sợi II ( Jốnhn và CS, 1973). Những phát hiện này có ảnh hưởng tới sự vận động của cơ ở người. Ngwoif có loại phần trăm sợi II cao ở cơ tứ đầu đùi có thể sinh ra một lực duổi đầu gối lớn hơn ở loại có dạng sợi II ít hơn ( Thorstensson và CS, 1976a). Giống như thế, các vận động viên suất sắc trong các cuộc thi nước rút có số phần trăm dạng sợi II cao hơn trong khi những vận động viên chạy xuất sắc dường như có loại sợi I chiếm ưu thế ( Komi và cộng sự, 1977; Saltin và CS, 1977).