Chống Dopping / Dinh dưỡng TT / Chấn thương trong TT

Chấn thương trong thể thao

PHẦN 4: NHỮNG TỔN THƯƠNG CỦA CƠ GÂN

Tổn thương mô mềm vẫn tiếp tục thách thức nghiên cứu của các nhà lâm sàng và khoa học cơ bản. Tổn thương đơn vị cơ - gân của các vận động viên có thể xuất hiện thông qua nhiều cơ chế. Sự hiểu biết cơ bản về những tổn thương là bước đi đầu tiên quan trong để ngăn chặn. Bài thảo luận sau đây phác thảo những hiểu biết hiện nay về sinh lý bệnh, cơ thể bệnh và các nghiên cứu về chức năng liên quan đến các tổn thương của vận động viên ở đơn vị cơ - gân.

SIÊU CẤU TRÚC

Hình 6.1 là một hình ảnh cơ bộ xương điển hình chụp qua kính hiển vi điện tử. Sự xắp xếp thành dải là do lặp lại các vạch tối và sáng. Trên kính hiển vi điện tử, những vạch tối trông như những sợi dây có các tia nhỏ hay những cầu bắt chéo từ sợi kéo ra. Thành phần protein cơ sở của sợi dày là myosin. Vạch sáng bao gồm những sợi mảnh, mà protein chính của chúng là actin gọi là vạch A vì nó dị hướng (anisotropic) với ánh sáng phân cực, trong khi vạch I là đẳng hướng (isotropic). Đơn vị chức năng cơ bản của cơ xương là sợi cơ vân, kéo thẳng từ một dải bên cạnh và còn được phân ra thành dải I và A. Dải Z bao gồm tối thiểu 4 loại protein: alpha, démin, tilamin, và zengmatin. Dải I chứa actin, troponin. Với sự co vaf sự rút ngắn lại của cơ, thì dải sáng hẹp lại và dải tối không thay đổi về độ dài. Cuối cùng có một vùng gần trung tâm của dải A được đặt tên là vùng H. Ở vùng H là đường M.

Việc điều hoà sự co cơ xương được thực hiện đầu tiên do nguồn dự trữ ion calci trong khu vực màng bao của tế bào chất được biết như hệ lưới cơ tương. Hệ lưới cơ tương có hai đơn vị riêng biệt. những ống dọc và hệ ống ngang. Hệ thống thứ hai cắt đôi các ống dọc, các ống này dãn ra tạo thành hai túi bên trong vùng đường Z. Hai túi bên và những ống ngang tương ứng với chúng cũng được nói đến nhw một bộ ba.

Một thế năng hoạt động đi qua các màng sợi cơ vân và đi vào hệ thống ống ngang. Kích thích lan toả theo chiều dọc vào các túi, kết quả làm tăng khả năng thấm calci và giải phóng ion calci vào cơ tương. Calci tự do này liên kết với protein điều hoà cho phép thực hiện sự tương tác của những sợi dây hay móng. Khi calci đạt tới 10­­-5 mol tropomyosin liên kết với các protein đích, troponin C, và sự thay đổi dị lập thể trong phức hợp troponin – tropomyosin với hoạt động của tropomyosin trở lại một cách dễ dàng. Sau khi hoàn thành hoạt động điện, cơ thư duỗi với sự chuyển vận tích cực calci voà các ống dọc của lưới cơ tương. Điều này dẫn đến sự phân ly calci từ troponin, cho phép phân tử tropomyoxin chuyển về các rãnh, ở đó nó ngăn chặn bất cứ sự gắn bắc cầu nào.