|
CÁC
KIỂU VẾT THƯƠNG
1.
Vết thương dây chằng có nhiều kiểu:
1.
Ít khi dây chằng đứt khỏi với một mảng xương,
gọi là gãy xương do giật. Cái này xảy ra ở
thanh thiếu niên khi bản thân dây chằng tương
đối khỏe hơn xương. Hình 5.7 là hình ảnh X
quang gãy xương do giật xương chày bởi dây
chằng chéo chữ thập trước.
2.
Đôi khi dây chằng bị giật khỏi bề mặt
tiếp giáp xương - dây chằng, nhưng cũng ít
gặp vì mặt tiếp giáp đó thường vũng bền
hơn dây chằng và như vậy hiếm khi nó lại nhường
trước.
3.
Thường thấy nhất là rách vật chất trung
gian. Chỗ rách có thể ngang hay chéo song hay
gặp hơn cả là rách ở nhiều điểm dọc theo
đường dây chằng. Điều đo làm cho thực tế
không thể sửa chữa trực tiếp hết các sợi
thớ của dây chằng.
2.
Xem xét về chức năng
Vì
dây chằng có vai trò then chốt trong sự ổn định
khớp nên không lấy làm lạ vì rằng sự rách
đứt lớn ở dây chằng có thể gây hậu quả
kinh khủng. Tác dụng trực tiếp dĩ nhiên là
mất sự ổn định. Sự thiếu hụt chức năng
có thể rất biến thiên phụ thuộc vào: (i)
sự không cần thiết của dây chằng, (ii) sự
toàn vẹn của các dây nâng đỡ khác, (iii)
sự ổn định cố hữu của khớp, (iv) sự
hiện hữu các biến đổi thích ứng bù trừ
trong các cơ bắp;
và (v) yêu cầu sinh lý của các vận động
viên. Mất ổn định của khớp có thể gây
biến đổi của trục vận động đúng. Điều
đó có thể dẫn tới sự xắp xếp sai khớp
khi vận động và tới sức ép tiếp xúc bất
bình thường tại một số miền của khớp.
Sự mất ổn định trường diễn của khớp còn
dẫn tới hư biến cánh tay đòn bẩy của bắp
thịt làm ảnh hưởng tới hiệu quả làm
việc của cơ bắp.
Sự
bù trừ của bắp thịt sau khi dây chằng bị
thương là hiện tượng đã được biết tới.
Người ta đang nghiên cứu xem liệu điều đó
có gây nén ép quá đáng lên các khớp hay không.
Cuối cùng sự mất cảm thụ bản thể liên
quan đến vết thương dây chằng cũng ảnh hưởng
tới sự hoạt động bình thường của toàn
bộ hệ thống cơ bắp dây chằng.
3.
Sự hàn gắn dây chằng
Hàn
gắn dây chằng bị thương là quá trình rất
phức tạp khó khăn (Ross, 1968). Nhiều sự
kiện sinh cơ học, hoá sinh học tế bào tinh vi
đan chéo nhau đang dính líu vào đó. Trên mô hình
động vật, sự hàn gắn dây chằng đã được
nghiên cứu kỹ và có thể chia làm bốn pha.
1.
Pha 1: Viêm.
Sau khi dây chằng rách đứt cấp diễn thì
chỗ hụt hẫng sẽ bị các cục máu lấp đầy.
Huyết thanh bắt đầu rót vào và gây ra sưng.
Bạch cầu máu được thu hút về miền bị thương
và các nguyên bào sợi mà nguồn gốc còn được
tranh luận bắt đầu được chuyển động vào.
Các chồi mao mạch tăng sinh và giúp cho nơi
bị thươngn được tưới máu nhiều hơn.
2.
Pha 2: Tăng sinh khuôn và tế bào. Lúc
này nguyên bào sợi trở nên rất hạot động
để tổng hợp khuôn nền và sơi collagen đuợc
xếp đặt. Đây đại thựuc bào và tế bào nuôi.
Lumen mạch máu trở thành ống và một mạng
mao mạch hình thành.
3.
Pha 3: Tái tạo. Số
lượng các tế bào nguyên sợi và tế bào viêm
bắt đầu giảm đi và hoạt động của các
tế bào này cũng chậm lại. Mật đọ collagen
tăng lên và tăng cường hướng dọc theo
chiều dài của dây chằng.
4.
Pha 4: Chín muồi. Đây
là một quá trình chậm chạp kéo dài nhiều tháng
thậm chí nhiều năm. Dây chằng hàn gắn rồi
trở nên cứng hơn, khỏe hơn và bắt đầu có
cá tính chất và thành phần giống hơn dây
chằng nguyên thuỷ. Chính trong pha này có tểh
diên xra sự co rút của dây chằng. Qúa trình này
đặc hệu đối với dây chằng và giúp làm
cho dây chằng đã hàn gắn trở lại được
chiều dài sinh lý nguyên thủy. Người ta nghĩ
rằng hiện tượng này thự chiện phân fnào vì
tăng sự nối chéo giữa các sợi collagen và
phần nào vì độ căng tác động lên các tế
bào trong pha chín muồi.
4.
Nghiên cứu chức năng hàn gắn dây chằng
Việc
hàn gắn dây chằng tạo ra mô sẹo đơn thuần
cũng không tạo ra mô dây chằng bình thường
(Frank, 1983). Dây chằng mới hàn gắn không
giống dây chằng nguyên thuỷ ở nhiều mặt. Nó
có hàm lượng collagen cao hơn nhưng nồng độ
collagen thì hơi giảm, nó chứa một tỷ lệ
collagen týp III cao hơn týp II và tổng tỷ lệ
collagne cũng cao hơn.
Về
mặt cơ học, dây chằng được hàn gắn không
bao giờ khỏe bằng dây chằng nguyên thuỷ
(tối đa 50-70%) và biến dạng nhiều hơn ngay
trong độ tải sinh lý.
Tập
tính chu kỳ và đặc trưng căng chùng cũng kém
hơn trước.
5.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hàn gắn dây
chằng
Có
một số yếu tố đưa đến sự hàn gắn dây
chằng một cách lý tưởng:
5.1.
Đầu bị đứt phải ở vị trí đối diện
tốt. Hiếm có trường hợp như vậy trên
thực tiễn lâm sàng và thường ở đây đòi
hỏi hoặc xếp đặt vị trí đúng của khớp
hoặc phải sửa chữa bằng phẫu thuật nhằm
đạt được tính liên tục của đầu nối.
5.2.
Sự hàn gắn phải được cung cấp máu. Các dây
chằng không có mạch máu và các dây chằng
trong khớp thì đặc biệt đáng ngờ hàn gắn
kém.
5.3.
Căng thẳng và vận động như sinh lý có cẻ có
lợi và có thể xúc tiến quá trình hàn gắn dây
chằng và tái tạo mẫu. Song nếu bắt đầu
cử động quá sớm sau khi bị thương sẽ có
thể gây ra chảy máu tiếp tục và phù làm cho
sự phục hồi kéo dài.
5.4.
Cần phải dứt khoát tránh căng thẳng và vận
động quá mức nhằm tránh bong bất thường.
Tuy nhiên bất động lâu có thể làm giảm số
lượng và chất lượng phức hợp dây chằng -
sẹo. Hình 5.8 cho thấy các biến đổi hình thái
mô học của dây chằng chéo chữ thập do bất
động. Sự cứng khớp có thể không tránh được
(Woo và cs, 1982).
6.
Đề phòng vết thương dây chằng
Không
thể phòng ngừa được mọi tổn thương dây
chằng. Tuy nhiên có thể giữ tỷ lệ tối
thiểu nếu vận động viên cũng như huấn
luyện viên biết rõ tính chất môn thi đấu, cá
yếu tố nguy cơ liên quan và các biện pháp phòng
ngừa có sẵn. Hầu như người ta đã nói và
đã làm quá nhiều về bệnh nguyên và cách điều
trị vết thương dây chằng, song việc phòng
ngừa thì vẫn chưa được tìm hiểu rõ. phòng
ngừa thì quan hệ chi phí -
hiệu quả tốt hơn điểu trị nhiều.
Với sự hợp tác chặt chẽ giữa vận độg
viên, huấn luyện viên, nhà khoa học thể thao,
điều trị viên và bác sỹ, chắc rằng có
thể gảim bớt nguy cơ cho giới vận động viên.
7.
Tính chất môn thi đấu
Các
kiểu hoạt động thể thao khác nhau sẽ có
thể sảy ra các dạng và độ nặng nhẹ khác
nhau của vết thương dây chằng. Hiểu biết
nguy cơ vốn có của môn thi đấu và xét sự
thích ứng của con người đối với môn đó
thì có thể tránh được nhiều chấn thương dây
chằng không nhất thiết gặp.
7.1.
Các môn thể thao nhiều nguy cơ
Các
môn thể thao liên quan đến tốc độ lớn, đến
độ cao, đến năng lực lớn và sức mạnh
lớn đều đặc biệt nguy hiểm. Dĩ nhiên trong
chừng mực liên quan đến việc đề phòng
chấn thương dây chằng thì dễ làm nhất là
cấm tất cả các môn thể thao nguy hiểm. Song
lẽ có những người lại khát khao chinh phục
cái bất khả, có thể không bao giờ thỏa mãn,
cho nên chính sách tốt nhất là giáo dục công
chúng về các nguy cơ và các tai biến tiềm tàng
trong những môn thể thao đó.
7.2.
Các luật chơi
Ngoài
tính vô tư của việc thi đấu, không nhất
thiết phải có một chức năng khác của lụât
chơi là tránh chấn thương. Vì chúng ta biết
nhiều hơn về nguyên nhân nhiều loại chấn thương
dây chằng và sự liên quan của chúng với
một số kiểu thể thao, cho nên phải sử đổi
luật chơi để đạt được mục tiêu nói trên.
Khi nói như vậy cần phải có sự quan sát tinh
tế và rất nhiều bằng chứng để thuyết
phục giới thẩm quyền rằng vì lợi ích của
vận động viên phải sửa đổi một số
luật chơi.
7.3.
Môi trường
Nơi
thi đấu nguy hiểm và thời tiết xấu hay dẫn
đến chấn thương. Người tổ chức có trách
nhiệm quyết định xem khi nào và ở đâu đủ
để diễn ra thi đấu an toàn và vận động viên
phải tính đến sự an toàn của mình. Về
mặt này cần có nhiều luật lệ và qui định.
7.4.
Thiết bị và các cơ cấu bảo vệ
Thiết
bị thể thao đem sử dụng không được gây
mất an toàn cho người dùng và đối phương.
Phải
rút khỏi thị thường càng sớm càng tốt
những loại nào như vậy. Tăng thêm bảo vệ,
đệm đầu gối, vòng buộc cổ tay và mắt cá
sẽ đặc biệt có ích để đề phòng bong dây
chằng và cần khuyến khích sử dụng. |