Chống Dopping / Dinh dưỡng TT / Chấn thương trong TT

Chấn thương trong thể thao

PHẦN 3: CÁC THƯƠNG TỔN CỦA SỤN VÀ DÂY CHẰNG

THƯƠNG TỔN SỤN

Sụn là một mô vững và trong mờ, có độ cứng rắn đáng kể để thích ứng tốt khi mang trọng tải. Ở trong thai, bộ xương lúc đầu cũng là sụn. Giống như các mô liên kết khác, xương gồm các tế bào-tế bào sụn và khuông liên tế bào chứa các thớ. Khuôn liên tế bào chủ yếu chịu trách nhiệm đối với các tính chất của sụn, nó đủ để kìm hãm đến một mức độ quan trọng sự căng, sự xoắn và sự ép. Cùng lúc đó nó tỏ ra có một mức độ đàn hồi nhất định. Sụn phát triển đầy đủ hoàn toàn rồi thì không có một chút mạch máu, mạch limpho hay thần kinh nào nuôi dưỡng.

Do sự biến thiên của đặc trưng của khuôn liên tế bào nên có 3 kiểu sụn phân biệt:

1.Sụn trong suốt

2. Sụn thớ

3. Sụn đàn hồi

Sụn khớp bao bọc mặt xương trong tất cả các khớp mới có màng hoạt dịch là một kiểu hơibiến đổi của kiểu sụn trong suốt mà ở đó thớ ở trong khuôn liên tế bào được xắp xếp theo một mô hình có trật tự chứ không lộn xộn.

Chúng tôi lưu ý điểm này khi xem xét các thương tổn liên quan đến thể thao ở mô liên kết quan trọng này của cơ thể.

1. Cấu trúc của sụn khớp nối

1.1. Sụn khớp nối bình thường

Tạo nên một lớp bọc trơn nhẵn và hơi đàn hồi ở đầu cùng của xương (Bradbury, 1973). Lúc trẻ thì sụn hơi xanh trong mờ, dày khoảng 2-4mm. Đến lúc già thì sụn trở thành màu vàng và đục hơn, bắt đầu mất bởi tính đàn hồi và mỏng hơn đi nhiều. Sụn khớp nối thì không được tưới máu và có mức độ chuyển hóa thấp.

1.2. Tế bào sụn

Tế bào sụn khớp nối là tế bào to và hình trứng thường có đường kính trên 40 micromet bao bọc bằng những chỗ khuôn trống. Tế bào chất chứa đựng các hạt glycogen, các giọt chất béo và đôi khi có sắc tố và thường có các không bào. Có một nhân lớn với một chất mặt xù xì. Bộ máy Golgi thường rất to với những không bào phát triển nhiều và có nhiều hạt nhỏ polycogen cũng như các ti thể. Ở bờ giữa sụn và màng sụn thường có nguyên bào sợi không phân hoá thông thường. Sự xắp xếp các tế bào ở sụn khớp cũng đặc trưng. Ở lớp ngoại vi dưới thấp của màng sụn hoặc gần mặt khớp tự do, các tế bào được xếp bằng trên một mặt song song với bề mặt, ở sâu hơn thì dọc theo trục dọc tế bào xếp thành các nhóm bao gồm hai, bốn hoặc tám.

1.3. Khuôn liên tế bào

Vật chất nền tảng này có vẻ đồng nhất lúc mới và có hàm lượng nước cao (khoảng 70%). Nó gồm có chondromucoprotein, một chất trùng hợp của mucoprotein cùng với chondrritin-4-sulphat và chondroitin-6-sulphat. Cũng có thể có một lượng nhỏ keratinsulphat.

Khuôn liên tế bào cũng được ken một màng lưới dày các sợi collagen rất mảnh. Kính hiển vi phân cực và kính hiển vi điện tử cho thấy các sợi này hay có hướng trùng hợp với hướng nén tối đa. Phần trung tâm của khối sụn là đối tượng chịu ép lực do đó chondrromucoprotein đặc biệt đậm đặc. Số sợi collagen nhiều hơn ở lớp ngoại vi khi có một lực kéo.

Vì trong vật chất nền tảng này không có tiểu quản nên tế bào sụn được nuôi dưỡng bằng sự trao đổi chất với khuôn liên tế bào. Chất lỏng dinh dưỡng được lấy từ mạch máu của màng sụn. Đối với sụn khớp này sự phân bố chất nuôi dưỡng như thể từ hoạt dịch cho thấy một mối liên quan chức năng quan trọng với sự vận động của khớp và sự toàn vẹn của dòng tuần hoàn dịch.

1.4. Sinh cơ học của sụn khớp bình thường

Sụn khớp thể hiện một đáp ứng nhớt - đàn hồi khi chịu tác dụng của tải và của sự biến dạng. Nó luồn dưới một tải đặt ổn định và sự nén ép lồi ra dưới một sự biến dạng đặc ổn định. Đáp ứng nhớt đàn hồi của sụn khớp phụ thuộc vào hai cơ chế vật lý sau đây:

1. Tính chất nhớt đàn hồi bên trong của các đại phân tử.

2. Sự trở ngại do ma sát phát sinh từ dòng chất dịch kẽ.

Hai cơ chế này cùng góp phần vào tính chất nhớt đàn hồi chung của sụn khớp dưới sức căng, sức nén và xé. Sự hiểu biết các mối liên hệ cấu trúc chức năng cơ bản đó là điều quan trọng để chúng ta tìm hiểu sâu hơn về sự biến đổi trong sự teo hệ xương khớp và sự hàn gắn sụn khớp.

2. Hàn gắn sụn khớp

2.1. Sự phát triển của lịch sử

Vấn đề hàn gắn sụn khớp đã được tập trung chú ý của đa số nàh nghiên cứu khoa học cơ bản kể từ 250 năm. Năm 1743 lần đầu tiên Hunter đã ghi nhận rằng "... loét sụn là một rối loạn mà khi đã phá hoại rồi thì không còn hồi phục được". Năm 1853 Paget cho biết "... khôgn bao giờ bộ phận sụn hư hỏng phục hồi được sụn mới và đẹp". Qua mấy chục năm, nhiều cuộc nghiên cứu đã xác nhận công trình khởi đầu của Hunter và Paget. Tuy nhiên có những báo cáo cho biết sụn hư hỏng có thể hàn gắn ở những điều kiện nhất định. Song trong đa số trường hợp thì mô bị thiếu hụt thành phần phân tử, tổ chức và các thuộc tính vật chất cũng như sự bền chắc của sụn khớp bình thường (Mankin, 1982). Do đó không tiên đoán được sự hàn gắn sụn đặc thù.

2.2. Bệnh học vết thương sụn khớp

Sụn khớp không trải qua quá trình hàn gắn độc lập vì các tế bào sụn trưởng thành không phân chia được (Bucknalter, 1983). Thiếu hụt sụn khớp đều tốt lên nhờ sự lan tràn từ màng sụn hoặc mặt gần nhất và nhờ sự lắng đọng mô liên kết. Một số nguyên bào sợi mô này sau đó bao quanh và biệt hóa trong tế bào sụn trong khi khuôn liên tế bào có thể thay đổi thành vật chất nền tảng điển hình của sụn. Do đó không ngạc nhiên là trong sự hàn gắn sụn khớp nối thường thấy các sợi đàn hồi màu trắng ở khuôn. Qúa trình hàn gắn rất thường hay dừng lại ở chặng này và chỗ thiếu được lấp đầy chỉ là nhờ mô sợi (hình 5.1).

Mất proteoglycan của khuôn là thay đổi đầu tiên của nhiều điều kiện, nhất là sự gãy vỡ của màng hoạt dịch do chấn thương sẽ bất động kéo dài chỗ nối và các quá trình viêm khác. Một số loại chất kháng viêm như các steroid cũng có thể gây ra các biến đổi như vậy.

Khi quá trình kết tủa chịu trách nhiệm làm mất khuôn này phục hồi được thì có một cơ hội để các tế bào sụn thay thế các thành phần khuôn đã mất và toàn bộ sụn có thể khôi phục cấu tạo và chức năng bình thường của nó. Tuy nhiên nếu các kích thước này vẫn tiếp tục thì sự hư hỏng sụn khớp có thể trở nên không thể phục hồi. Thông thường nếu các mắt dây collagen còn nguyên vẹn và các tế bào sụn tồn tại được, có khả năng tổng hợp các proteoglycan, thì sụn có thể phục hồi hoàn toàn lại các điều kiện bình thường.

3. Kiểu thương tổn

3.1. Thương tổn kín

Thương tổn kín ở sụn thường hay gặp khi không gãy xương. Đó có thể là nguyên nhân sinh ra rối loạn chức năng khớp lâu dài đáng kể. Có thể nó liên quan đến sự sử dụng quá mức nhất là khi chương trình tập luyện quá nhiều hoặc lịch luyện tập không hợp lý dẫn tới sự quá mức của xương. Rõ ràng rằng tác dụng của sự chịu tải vượt quá mức sinh lý có thể làm cho sụn sưng lên, tăng kích thước sợi collagen và phá hoại mối quan hệ giữa collagen và proteoglycan. Chấn thương nếu đủ rộng và nặng có thể gây ra gãy hoặc nứt khuôn sụn, gãy xương dưới sụn, gãy vỡ mạng lưới collagen và làm chết tế bào sụn.

3.2. Vết thương hở

Khi xem xét quá trình hàn gắn thì chiều sâu tôn rthương sụn là điều quan trọng. Có một vùng sụn calci hoá cách ly sụn khớp khỏi các tế bào tuỷ và các mạch máu tham gia voà phản ứng viêm chống lại sự tôn thương. Khi các vết thưuơng xâm nhập tạo ra một khuyết tật hạn chế chỉ trong chất sụn khớp thôi thì khả năng hàn gắn sẽ giảm sút. Đó là một khuyết tật có bề dày từng phần.

Về mặt cơ sinh học, công trình nghiên cứu của Furukawa và cộng sự cũng đã chứng minh rằng mô tái tạo chứa một lượng đáng kể collagen typ I so với sụn khớp bình thường chứa collagen sơ cấp týp II (Furukawa et al, 1980). Do vậy có thể kết luận rằng tuỳ theo vết thương sụn khớp nối, sự biệt hóa của các tế bào collagen giống nguyên bào sợi thành tế bào sụn là không hoàn toàn và nó không sản sinh ra một quần thể tế bào sụn mà týp hình của nó tương tự với týp hình của tế bào sụn khớp nối bình thường.

Việc nghiên cứu tích cực thực hiện theo đề tài cho rằng khuôn xương có thể đóng vai trò then chốt trong việc hàn gắn sụn. Có thể có khả năng khuôn xương chứa các yếu tố của sự biệt hóa để lứon lên, chúng có thể kích thích tạo thành sụn trong, đặc biệt tại các khuyết tật nhỏ trong vòng đường kính 1mm.

4. Xếp hạng vết tổn thương sụn khớp

Mấy năm vừa qua một vài hệ thống phân loại khác nhau mô tả mức độ thương tổn ở sụn khớp đã xuất hiện trên y văn, mỗi hệ thống đều có những hạn chế và những thêíu sót có thể dẫn tới nhầm lẫn. Noyes và Stabler (1989) đã đề xuất một hệ thống mới mô tả sự bất thường về sụn khớp bằng các thuật ngữ giản đơn. Hệ thống đó dựa trên bốn biến thiên cách biệt và phân biệt nhau là:

1. Mô tả bề mặt khớp

2. Mức độ rộng (sâu) của nơi liên quan

3. Đường kính vết tổn thương

Để so sánh trong nghiên cứu khoa học cơ bản và lâm sàng, điều quan trọng là phải có một ngôn ngữ chung và một hệ thống phân loại phổ thông. Hình 5.1 minh hoạ các chi tiết hệ phân loại mới đó về các vết tổn thương sụn khớp.

5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hàn gắn sụn khớp

Một số vết thương của vận động viên gây ra sự đứt vô đáng kể cử sụn khớp có thể gây đau đớn và tàn phế, ví dụ như gãy sụn xương và viêm sụn xương. Vì nhiều người trong số các vận động viên này còn trẻ tuổi nên không muốn thay khớp và chúng ta có nhiều ý đồ muốn tăng cường hiểu biết về vết tổn thương sụn nguyên vẹn và tăng cường tìm tòi các phương pháp cải thiện sự hàn gắn. Nói rộng ra có thể thí nghiệm hai quá trình thao tác dưới đây để cải thiện sự hàn gắn sụn khớp.

5.1. Các yếu tố bên trong

Cấy ghép tế bào. Một quần thể mới của tế bào mọc ra và được duy trì từ trường nuôi cấy tế bào hoặc từ các tế bào sụn gặt hái được ở nơi khác, có thể cấy ghép vào chỗ khuyết và hy vọng chúng có thể tổng hợp tạo ra một khuôn sụn mới. Nhiều công trình nghiên cứu trên súc vật cho biết các tế bào sụn tương đồng ép vào gel trái hấp thu khi đem cấy sẽ có thể cải thiện quá trình hàn gắn.

Yếu tố hormon. Nhiều chất mà ta biết có kích thích sự sinh sụn đã được thử nghiệm trên các mô hình thực nghiệm để kích thích sự tái tạo sụn, ví dụ như hormon tăng trưởng tinh khiết của bò, một protein khuôn xương 31 kda. Các chất này có tiềm lực đáng kể song cần nghiên cứu thêm nữa để tìm ra những yếu tố hữu ích nhất, cách cung cấp chúng nó cho vị trí thương tổn và để xác định mối quan hệ lý tưởng về liều lượng - đáp ứng và chất lượng của mô tái tạo.

Dàn gắn nhân tạo. Để tạo được quá trình hàn gắn lấp đầy chõ khuyết tật bằng collagen hay gel fibrin, cấy sợi carbon hay các chất gel tổng hợp khác đều có thể sử dụng. Người ta hy vọng các tế bào trung mô có thể tràn ngập dàn này để tăng sinh và tổng hợp ra một khuôn mới.

Cấy ghép tự thân. Việc sử dụng các miếng ghép này cung cấp một phương pháp đem lại một quần thể tế bào mới tham gia vào việc tổng hợp sụn khớp. Song vẫn còn chưa chắc chắn rằng liệu các mô màng xương  và màng sụn này lấy từ các cá thể có bộ xương trưởng thành cũng có cùng tác dụng thuận lợi như ở động vật có bộ xương non. Mô tạo ra đó có thể không có sự lâu bền giống như sụn bình thường.

5.2. Các yếu tố bên ngoài

Hớt tạo hình khớp. Có kinh nghiệm lâm sàng cho ta nghĩ rằng cạo soi khớp hoặc hớt sụn rung không đều có thể trừ được một số triệu chứng của bệnh khớp thoái hoá. Tuy nhiên, hiệu quả chưa được tổng kết đầy đủ trên tư liệu về mặt nghiên cứu lâm sàng dài hạn có đối chứng tốt. Ngược lại có những báo cáo gợi ý rằng có thể gây rung nhiều hơn và hoại tử tế bào ở vùng áp với khuyết tật ban đầu.

Xốp hoá và khoan. Sự hình thành một cục fibrin và sự tràn ngập mạch máu ở mô tái tạo sau khi khoan là cơ sở của thủ pháp này. Ý định là quần thể tế bào mới xâm nhập vào chỗ khuyết tật có thể tạo ra một đáp ứng tái tạo rộng rãi hơn là người ta thấy ở vết  thương chỉ giới hạn trong sụn. Tuy nhiên trong thực nghiệm người ta thấy mô tái tạo thoạt đầu có vẻ trong suốt song qua thời gian nó trở thành xơ nhiều hơn và thường bắt đầu rung rồi gãy. Trên lâm sàng, khoan có khi tiêu trừ được triệu chứng song kết quả lại không dự đoán được.

Kích thích cơ học. Công trình nghiên cứu cổ điển của Depalma và cộng sự (1966) đã chứng minh rằng trong các khuyết tật nhỏ (bé hơn 1mm) lọt vào xương dưới sụn thì sự vận động thụ động liên tục có thể tăng quá trình hàn gắn và tạo ra một mô rất giống sụn trong về hình thái học và mô học. Tuy nhiên chưa biết liệu sự vận động thụ động có cùng hiệu quả như thế trong việc thúc đẩy hàn gắn các khuyết tật  rộng hay không. Hơn nữa không thấy tác dụng có lợi của vận động thụ động trong việc phục hồi chấn thương chỉ giới hạn ở sụn khớp.

Kích thích bằng tia laser. Người ta thấy rằng khuyết tật của sụn khớp bề mặt khi được chiếu laser thì liều nhỏ chứng tỏ quá trình hàn gắn cao hơn quá trình thấy ở các vết tổn thương không được điều trị.

Tuy nhiên cơ chế chính xác thì chưa rõ và kết quả dài hạn của sự hàn gắn bằng kích thích laser chưa chắc chắn.

Kích thích điện tử. Khi đo bằng trường điện từ xung thì thấy các tế bào sụn có thể tăng cường sự tổng hợp proteoglycan giống sụn. Tuy nhiên hiệu quả của kỹ thuật này không chứng tỏ có  thúc đẩy sự tái tạo các khuyết tật thật sự của sụn khớp.

5.3. Các yếu tố tiên lượng sự hàn gắn của sụn

1. Độ lan toả về giải phẫu của vết thương tổn

2. Tuổi của người bệnh

3. Tình trạng của khớp trước khi bị thương

4. Chất lượng, độ lan toả và mức độ lâu dài của mô tái tạo

6. Cấu tạo khớp bình thường

Ở khớp hoạt dịch bình thường các đầu xương được bao phủ bởi sụn khớp trong và mặt được bôi trơn bằng nước hoạt dịch tạo ra từ màng hoạt dịch nâng đỡ bởi nang khớp sợi thớ. Khi xem xét các vết thương khớp nối liên quan đến thể thao thì điều quan trọng xét kỹ giải phẫu bệnh học và sinh lý bệnh học của yếu tố cá  nhân có thể là đối tượng cho các lực gây chấn thương.

Màng hoạt dịch là một màng mỏng vạch bởi một lớp duy nhất các tế bào con suốt hoặc một hay nhiều lớp tế bào hình trứng hay hình đa giác. Các tế bào nội mạc đó hoàn toàn cách biệt với mô trong bởi một màng, mô này có thể rỗ, có thể có thớ dày đặc  hoặc có mỡ ở các phần khác của khớp. Về chức năng, có thể phân biệt bằng kính hiển vi điện tử hai kiểu tế bào nội mạc: (i) týp A, nhiều hơn, liên quan đến sự hấp thu, trong khi (ii) týp B thì tổng hợp các mucoplysaccharid như hyaluronat.

Màng hoạt dịch có thể phẳng hoặc gấp nếp. Đặc biệt ở mép không nối để tạo ra các nhung mao. Thực tế nó bao gồm toàn bộ các bề mặt khớp nối từ sụn khớp và sụn chêm. Màng hoạt dịch có một mạng lưới đầy các mạch máu có hoạt tính chuyển hoá rất mạnh và quan trong trong phản ứng của vết thương.

Hoạt dịch là một sản phẩm thẩm phân của huyết tương cùng với acid hyaluronic, chất này làm cho dịch có tính chất nhớt. Người ta tin rằng tỷ lệ acid hyaluronic giảm đi khi tuổi cao lên. Trong tình huống bình thường, khớp hoạt dịch chứa ít nhất 1m dịch hoạt dịch. Thường có 50-400 tế bào có nhân trong một mm3, ít tế bào đa hình thể và khoảng 20% lympho bào, một ít tế bào hoạt dịch và đa số các thực bào đơn nhân phát sinh từ các tế bào mô hoạt dịch. Về mặt hóa sinh, albumin và globulin hiện hữu với nồng độ thấp trong dịch hơn là trong huyết tương, với tỷ lệ  albumin/globulin là 4/1. Nồng độ glucose thường thấp hơn trong máu. Các dịch hoạt dịch là yếu tố quan trọng trong sự nuôi dưỡng sụn khớp. Như để đáp ứng với thương tích thường có sự tăng sinh hoạt dịch (tràn ngập) làm cho khớp nối sưng phồng. Người ta tin rằng sự tuần hoàn hoạt dịch là cơ chế quan trọng để duy trì sự trơn của khớp nối và tình trạng nuôi dưỡng sụn khớp.