Chống Dopping / Dinh dưỡng TT / Chấn thương trong TT

Chấn thương trong thể thao

PHẦN 2: CHẤN THƯƠNG XƯƠNG

Bộ xương người gồm 212 xương với tổng khối lượng 12-14 kg. Nguyên tố calxi, thành phần quan trọng chất khoáng trong mô xương chiếm 2% tổng các nguyên tố trong cơ thể. Cùng với mô liên kết và các cơ bắp, bộ xương làm thành hệ nâng đỡ và vận động của cơ thể, xương có khả năng tái tạo tuyệt vời và có thể thay đổi tính chất và cấu hình để đáp ứng yêu cầu cơ học. Có 2 kiểu hình thái học của xương: i) Hệ xương bè (hệ lưới), ii) Hệ vỏ (hệ đặc). Cái khác nhau chủ yếu là ở độ xốp. Độ xốp thay đổi từ 5-30% ở xương hệ vỏ và từ 30-90% ở xương hệ lưới.

Hệ vỏ thấy ở thân các xương dài, hộp sọ và xương hàm dưới. Trong khi xương hệ lưới thấy ở đầu cùng các xương dài, hành xương, xương sống, bên trong các xương cổ tay và chân.

CÁC KẾT LUẬN NÊN CÓ

Các tác nhân sinh cơ học

1. Hình thù xương được tối ưu hóa đối với mô hình mang tải bình thường. Các phương mang tải không hợp sinh lý sẽ tăng nguy cơ tổn thương cho bộ xương.

2. Khi chịu tải, xương bị biến dạng. Có một giới hạn trên, xương rơi vào đó. Đối với các xương khác nhau của cơ thể thì điều này khác nhau.

3. Chịu tải liên tiếp gây ra hỏng xương do mệt mỏi. Nguy cơ tăng lên với tải lặp đi lặp lại tỷ lệ cao.

4. Sự mệt mỏi cơ bắp làm giảm độ cứng của xương và tăng nguy cơ hư hỏng vì mệt mỏi.

5. Xương trẻ em và thiếu niên thì kém cứng và dễ biến dạng với một tải cho trước so với xương trưởng thành.

6. Xương của người trẻ, các dây chằng và gân kèm theo cũng có thể yếu hơn, tăng nguy cơ gây bật ra.

Sinh lý học xương

1. Việc tái tạo xương chậm chạp, do đó một thời kỳ luyện tập tích cực cần có một thời kỳ luyện tập tăng dần trước đó để tránh gẫy xương do sức ép.

2. Có một quan hệ liều lượng - đáp ứng giữa các hoạt động thân thể và khối lượng xương.

3. Luyện tập thái quá, với tác dụng xấu lên khối lượng xương, nhất là ở tuổi thiếu niên, có thể dẫn tới sự rối loạn sức lớn và cũng có thể dẫn tới mất kinh nguyệt ở phụ nữ.

4. Hàng ngày nên ăn vào một lượng khoáng như calci, fluroid và magnesi, các vitamin như vitamin D, đủ cho việc sản xuất tối ưu của xương. Cung cấp trên mức đó không lợi gì.

5. Xương mất đi ở tuổi trưởng thành với tỷ lệ 0,5-1,5% phụ thuộc vào giới tính và tuổi tác.

6. Một yếu tố lớn làm loãng xương và tiếp theo là gẫy ròn ở người già là thiếu hoạt động thể lực.

7. Một thời kỳ ngắn hoạt động thể lực ở tuổi trẻ không xây dựng được một dự trữ cho vốn xương đủ kéo dài suốt đời. Việc hoạt động thể lực liên tục suốt đời là hết sức quan trọng.

8. Ngay cả hoạt động thể lực cường độ thấp như đi bộ cũng có lợi cho khối lượng xương.

9. Một số bệnh tật và thuốc men có ảnh hưởng xấu lên bộ xương.

10. Hút thuốc và uống rượu dẫn tới một khối lượng xương thấp hơn.