CÁC
KẾT LUẬN NÊN CÓ
Các
tác nhân sinh cơ học
1.
Hình thù xương được tối ưu hóa đối với
mô hình mang tải bình thường. Các phương mang
tải không hợp sinh lý sẽ tăng nguy cơ tổn thương
cho bộ xương.
2.
Khi chịu tải, xương bị biến dạng. Có một
giới hạn trên, xương rơi vào đó. Đối với
các xương khác nhau của cơ thể thì điều này
khác nhau.
3.
Chịu tải liên tiếp gây ra hỏng xương do
mệt mỏi. Nguy cơ tăng lên với tải lặp đi
lặp lại tỷ lệ cao.
4.
Sự mệt mỏi cơ bắp làm giảm độ cứng
của xương và tăng nguy cơ hư hỏng vì mệt
mỏi.
5.
Xương trẻ em và thiếu niên thì kém cứng và
dễ biến dạng với một tải cho trước so
với xương trưởng thành.
6.
Xương của người trẻ, các dây chằng và gân
kèm theo cũng có thể yếu hơn, tăng nguy cơ gây
bật ra.
Sinh
lý học xương
1.
Việc tái tạo xương chậm chạp, do đó một
thời kỳ luyện tập tích cực cần có một
thời kỳ luyện tập tăng dần trước đó để
tránh gẫy xương do sức ép.
2.
Có một quan hệ liều lượng - đáp ứng giữa
các hoạt động thân thể và khối lượng xương.
3.
Luyện tập thái quá, với tác dụng xấu lên
khối lượng xương, nhất là ở tuổi thiếu
niên, có thể dẫn tới sự rối loạn sức
lớn và cũng có thể dẫn tới mất kinh
nguyệt ở phụ nữ.
4.
Hàng ngày nên ăn vào một lượng khoáng như
calci, fluroid và magnesi, các vitamin như vitamin D,
đủ cho việc sản xuất tối ưu của xương.
Cung cấp trên mức đó không lợi gì.
5.
Xương mất đi ở tuổi trưởng thành với tỷ
lệ 0,5-1,5% phụ thuộc vào giới tính và tuổi
tác.
6.
Một yếu tố lớn làm loãng xương và tiếp
theo là gẫy ròn ở người già là thiếu hoạt
động thể lực.
7.
Một thời kỳ ngắn hoạt động thể lực ở
tuổi trẻ không xây dựng được một dự
trữ cho vốn xương đủ kéo dài suốt đời.
Việc hoạt động thể lực liên tục suốt đời
là hết sức quan trọng.
8.
Ngay cả hoạt động thể lực cường độ
thấp như đi bộ cũng có lợi cho khối lượng
xương.
9.
Một số bệnh tật và thuốc men có ảnh hưởng
xấu lên bộ xương.
10.
Hút thuốc và uống rượu dẫn tới một khối
lượng xương thấp hơn.
|