|
HOẠT
ĐỘNG THỂ LỰC VÀ XƯƠNG
Hoạt
động của cơ bắp tác dụng chịu tải lên
bộ xương và xương được xây dựng lại tỷ
lệ với tổng số tải vật lý, định luật
Wolff. Tải tác dụng lên bộ xương có thể
tạo thành hoặc do hoạt động của cơ bắp
hoặc do trọng lực.
Có
mối tương quan thuận giữa hoạt động thể
lực và khối lượng xương. Tuy nhiên có một
số hạn chế và nhiều yếu tố ảnh hưởng
đến sự bù đắp cho xương. Khối lượng xương
của một số cá thể phụ thuộc rất nhiều vào
những yếu tố khác nhau: yếu tố dinh dưỡng,
bệnh tật, thuốc, hormon, các yếu tố nhân
trắc hoạt động ngoài hoạt động thể lực
ra. Phần sau sẽ tóm tắt một số yếu tố đã
biết.
Tác
dụng của trọng lực
Khối
lượng cơ thể tỷ lệ thuận với khối lượng
xương. Đó là thể hiện tác dụng của trọng
lực. Sự mất trọng lực mà các nhà du hành vũ
trụ trải qua đã gây ra sự bài tiết calci
nhanh chóng qua nước biển và làm hư hỏng sự
khoáng hóa của xương. Những biến đổi này
trong một chừng mực nào có thể phục hồi và
đề phòng được nhưng không hoàn toàn. Thực
nghiệm bằng các bài tập tích cực tư thế
nằm hay ngồi không ngăn ngừa được sự mất
xương do mất trọng lực.
Tác
dụng của sự bất hoạt động
Không
sử dụng hoặc bất hoạt động có tác dụng
xấu cả với cơ bắp lẫn bộ xương. Nằm
nghỉ gây ra sự giảm sút khối lượng xương
khoảng 1% mỗi tuần. Tuy nhiên, không phải
tất cả các chất khoáng đều có thể mất và
trạng thái ổn định sẽ đạt được khi
mất khoảng 30-40% chất khoáng của xương. Sự
mất khoáng của xương như vậy không nhất
thiết đi kèm sự mất khối lượng thân thể.
Sự
teo xương gây ra bởi trạng thái mất trọng lượng
hoặc nằm lâu quá không hồi phục hoàn toàn.
Tác
dụng của hoạt động cơ bắp
Cùng
với trọng lực, các bắp thịt đặt tải lên
bộ xương. Rõ ràng có liên quan giữa mức độ
hoạt động cơ bắp và sự cứng rắn của xương.
Vùng bắt chéo của cơ thắt llưng có tỷ lệ
thuận với khối lượng xương các xương
sống.
Ở
người cao tuổi, tỷ lệ gẫy xương do ròn ở
háng, cổ tay, xương cánh tay gần và các xương
khác tăng. Việc nghiên cứu các bệnh nhân này
sử dụng sinh thiết bắp thịt lấy từ vastus
lateralis cho thấy sự teo đi do không sử dụng
bắp thịt không có bất kỳ một dấu hiệu
bệnh lý nào. Hoạt động thể lực và sự điều
phối có liên quan đến sức mạnh đến sức
mạnh bắp thịt bè. Hơn nữa, sức nắm tay tương
đối yếu liên quan đến nguy cơ ngã và gẫy xương
liên tiếp ở người cao tuổi. Các ví dụ này
cho thấy mối tương quan giữa tình trạng
chức năng hệ cơ bắp và chất lượng xương
có tầm quan trọng đối với nguy cơ ngã và
gẫy xương. Điều này cũng chỉ ra hiệu quả
sự phòng ngừa của việc luyện tập thể
dục đối với người già.
Các
tác dụng của hoạt động thể lực lên bộ xương
nói chung
Như
nghiên cứu thực nghiệm và quan sát đã chứng
minh: có liên quan tỷ lệ thuận giữa hoạt động
thể lực và khối lượng xương. Vì sự mất
xương bình thường chỉ là 0,5 đến 1,5% mỗi
năm và mọi phương pháp đo lường đều có
sai số nên đôi khi do những sai số về phương
pháp đo, không thể chứng minh tác dụng nào
trong các công trình nghiên cứu trong một số năm
sau.
Các
công trình quan sát trên vận động viên
Trong
cơ thể có nhiều vị trí lớn nhỏ khác nhau có
mật độ cao của xương, ví dụ xương đùi
gần, giữa và xa, cánh tay trước, vừa và xa,
xương cánh tay, gót, xương sống và bàn chân
đã được chứng minh ở vận động viên so sánh
với đối chứng. So với những người bình thường
làm đối chứng, vận động viên chạy cự ly
dài có hàm lượng khoáng trong xương cao hớn
tới 20%. Thậm chí có những khác biệt lớn
ở người già hoạt động; người 50-72 tuổi
chạy cự ly dài có mật độ khoáng của xương
cao hơn 40% so với người không hoạt động.
Nữ
vận động viên học sinh nhiều khoáng trong xương
hơn là người bình thường. Những phụ nữ
sau tuổi mãn kinh mà hoạt động tích cực về
thể lực thì thậm chí sự khác biệt còn
lớn hơn nữa.
Dường
như sau tuổi 50 thì các hoạt động thể lực
có tác dụng tương đối lớn hơn lên bộ xương.
Có thể đây là do ảnh hưởng đến sự mất
xương tăng lên một cách bình thường sau
tuổi mãn kinh. Cũng chứng minh được mối quan
hệ về liều lượng - đáp ứng trong một vài
công trình nghiên cứu này.
Một
số bộ phận của bộ xương có phản ứng
với các hoạt động thể lực, ở những mức
độ khác nhau. Tác dụng đó lớn nhất ở
phần phụ bộ xương bè so với bộ xương
trục ở vận động viên chạy cự ly dài.
Kết
quả nhiều công trình nghiên cứu quan sát đan
chéo thì khá ổn định và cho thấy lợi ích
của hoạt động thể lực đối với khối lượng
xương ở mọi lứa tuổi.
Các
công trình thực nghiệm
Có
những công trình nghiên cứu ngẫu nhiên hóa và
không ngẫu nhiên hóa được thực hiện theo phương
pháp theo dõi về sau. Do các khó khăn trong
việc thực hiện các công trình dài hạn
nhiều năm liền nên kết quả các công trình
đó đã không cho thấy những khác biệt lớn
giống nhau giữa các nhóm hoạt động và không
hoạt động như trong các công trình nghiên
cứu quan sát. Tuy nhiên một số công trình
trong số đó cũng đã cho thấy một quan hệ
liều lượng - đáp ứng. Một ví dụ là so sánh
tác dụng của khiêu vũ và đi bộ, ở đây khiêu
vũ giữ cho bộ xương tốt nhất ở phụ nữ
sau tuổi mãn kinh. Tuy nhiên cả hai hoạt động
này đều có tác dụng tích cực so với nhóm
đối chứng không hoạt động.
Các
kết quả về số lượng nằm trong khoảng tăng
3,5% về chất khoáng của xương cho đến sự kìm
chậm lại sự mất mát bình thường ở người
trung niên và người già không tăng lên. Cũng có
ít nhiều bằng chứng về mất xương bắt đầu
trong khi luyện tập. Điều này chưa rõ lý do
song có thể có sai số đo lường.
Sự
khoáng hóa xương tăng cao hơn ở người già
khoảng 5-10% đã được thấy ở xương chày
binh lính sau 16 tháng tập luyện. Tuy nhiên
liều lượng tập luyện này đã vượt quá
sức mạnh của xương trong nhiều trường
hợp, nên các gẫy xương do nén ép thường
xảy ra.
Ở
người cao tuổi, người ta đã chứng minh được
tác dụng có lợi của hoạt động thể lực
thậm chí ngay cả liều lượng hoạt động
thấp như thể đi bộ và tập 1 giờ, với hai
lần hoặc hơn hai lần trong một tuần lễ.
Tác
dụng khu trú tại chỗ của hoạt động thể
lực
Sự
tăng tại chỗ hàm lượng khoáng của xương
tại các miền có tải trong bộ xương đã được
chứng minh ở các đấu thủ quần vợt: ở xương
của tay cầm vợt có mật độ cao hơn ở tay
kia. Tác dụng khu trú này cũng thấy ở vận động
viên bóng chày. Lượng khoáng trong xương cũng
tăng trong xương quay xa của vận động viên
chạy. Như vậy nghĩa là cũng có tác dụng có
lợi do tập luyện trên các miền không chịu
tải của bộ xương.
Liều
lượng tập luyện và xương
Nói
chung, hàm lượng khoáng của xương phụ thuộc
nhiều vào hoạt động thể lực hơn là vào kích
thước của bộ xương trục tức là xương
sống. Bộ xương này phụ thuộc rất nhiều vào
các tác nhân nội tiết và các tác nhân khác.
Ở
thiếu niên và thanh niên, tác dụng của hoạt
động thể lực lên bộ xương khác với tác
dụng của sự lớn bình thường. Hormon lớn lên
và các steroid sinh dục cả nam tính lẫn nữ tính
đều có ảnh hưởng tích cực lên sự khoáng
hóa của bộ xương.
Các
công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự
mất xương do thiếu hụt calci đã bổ sung vào
sự không sử dụng xương. Tuy nhiên hoạt động
thể lực cũng có tác dụng bảo vệ trên bộ
xương thiếu calci.
Dường
như một thời kỳ hoạt động hàng ngày dài hơn
không đem lại lợi ích gì thêm cho bộ xương
so với thời kỳ ngắn hơn. Như vậy, mối tương
quan liều lượng - đáp ứng giữa hoạt động
thể lực và mật độ chất khoáng trong xương
dường như không phải là tương quan tuyến tính
mà đạt tới mức độ tối ưu.
Các
hoạt động khác nhau được nghiên cứu bao
gồm: đi bộ, khiêu vũ, thể dục nhịp điệu,
chạy cự ly dài và chạy maratông, điền kinh
nặng, tennít, bơi, các môn phối hợp và hoạt
động dã ngoại. Chạy dai sức và chơi tennít
nâng cao khối lượng xương ở người trên 50
tuổi. Ngược lại do ở tuổi 45 thấy cử tạ
làm mất phần được thêm chất khoáng trong xương
mà người ta có được khi đã hoạt động
xung quanh tuổi 20-25. Vì vậy có lẽ điều quan
trọng hơn đối với sức khỏe của xương là
tiếp tục một kiểu hoạt động thể lực nào
đó suốt đời hơn là hoạt động rất nhiều
trong một thời kỳ giới hạn nào đó của đời
sống. Như vậy một sự tích lũy vốn xương
ở tuổi trẻ có thể không kéo dài được
suốt đời.
|