|
CHUYỂN
HÓA CỦA XƯƠNG
Sinh
lý học xương
Bộ
xương gồm có các thành phần hữu cơ và vô cơ.
Thành phần hữu cơ, 30%, bao gồm chất tạo
keo, glucoprotein, phosphoprotein, mucopolysaccharid
hoặc glycosaminoglycan (GAG) và lipid.
Thành
phần vô cơ, 70%, gồm chủ yếu là các tinh
thể hydroxyapatit (Ca10(PO4)6(OH)2)
có tính chất vật lý của gốm sứ và thành
tố quan trọng nhất là calci. Hàng ngày cần
sử dụng 800mg calci. Số lượng cần dùng được
đề nghị khác nhau tùy từng nước. Lúc có
thai và cho con bú thì yêu cầu nhiều hơn. Sự
mất xương ở người già phụ thuộc tuổi tác
có thể giảm đi nếu đề nghị cho dùng tăng
calci, 1000mg mỗi ngày trở lên. Mặt khác, sự
thiếu hụt calci khiến phải huy động đến
calci trong bộ xương... bằng calci nội môi ưu
tiên trước hết ở nồng độ trong huyết tương.
Magnesium,
... cũng như các khoáng chất khác đều là thành
phần vô cơ của xương.
Bộ
xương có khả năng tái tạo duy nhất trong
suốt cuộc đời. Sự mất đi do hủy cốt bào
diễn ra liên tục cùng với sự tạo thành xương
từ nguyên bào xương. (Hình 4.3). Sự tái tạo
máu tổ chức rất tốt này diễn ra trong
những đơn vị nhỏ bé gọi là đơn vị
chuyển hóa cơ bản (basic metabolic unit - BMU).
Về khả năng này, xương khác các mô liên
kết khác trong cơ thể.
Hình
4.3. Hình vẽ sơ lược một số giai đoạn tái
tạo xương. Xương mảnh vụn hấp thu lại và
nguyên bào xương kết lại thành xương mới. Hình
vẽ trình bày một đơn vị chuyển hóa cơ
bản. (a) Giai đoạn nghỉ; (b) Hấp thu lại; (c)
Tạo xương và (d) Giai đoạn nghỉ.
Các
nguyên bào xương có một số lượng lớn các
thụ thể ví dụ thụ thể estrogenm progesteron,
hormon cận giáp (PTH) và các hormon khác. Cũng có
những thụ thể khác đối với nhiều yếu
tố tăng trưởng khác nhau. Các mảnh xương thì
có ít thụ thể và được điều chỉnh từng
phần bởi các nguyên bào xương. Sự tái hấp
thu của xương được kích thích do mặt ngoài
của xương bị bộc lộ không có các tế bào
lót.
Tế
bào xương là những tế bào trưởng thành
nằm trong xương. Chúng có tuổi thọ cao tới
hai mươi năm hoặc hơn nữa. Chúng cũng tham gia
việc tái tạo như đã nói trên.
Có
lúc tới khoảng 5% xương ở trong giai đoạn tái
tạo.
Sự
chuyển hóa bình thường
Trong
cuộc đời, khối lượng xương thay đổi. Lúc
thơ ấu và lúc thiếu niên thì tăng khối lượng,
ở tuổi trưởng thành thì đạt tới điểm đỉnh.
Có một vài chỗ còn tranh cãi là liệu có
một điểm đỉnh thật sự về khối lượng xương
hay chỉ có một miền cao ở khoảng 20-25 tuổi
đến 35-40 tuổi. Dẫu sao từ điểm cực đại
đó có sự mất xương bắt đầu từ tuổi 35,
mà ở phụ nữ thì có một giai đoạn nhanh
bắt đầu lúc mãn kinh. Hàng năm phụ nữ mất
đi 1-2%.
Đàn
ông cũng có sự suy thoái tương tự về khối
lượng xương, song bắt đầu chậm hơn ít
nhiều vào khoảng tuổi 45 và tỷ lệ ít hơn
phụ nữ một chút, hàng năm 0,5-1% (Hình 4.4).
Khối lượng xương cực đại trong đời người
ở đàn ông cao hơn so với đàn bà. Lý do là tác
động của hormon sinh dục chủ yếu là
testosteron, khối lượng cơ và khối lượng cơ
thể lớn hơn, gây ra sự tăng tải lên bộ xương.
Hình
4.4. Hàm lượng khoáng trong cuộc đời. Sự
mất diễn ra nhanh chóng hơn giữa tuổi 45 và
65.
Ở
tuổi mãn kinh, estrogen ở đàn bà bắt đầu
suy thoái và tác động tích cực của hormon đó
tới bộ xương bắt đầu biến mất.
Bệnh
loãng xương
Loãng
xương và xốp xương hoặc gẫy xương do ròn là
một bệnh dịch ở Châu Âu, Bắc Mỹ và trở
thành một vấn đề y tế lớn.
Sự
mất xương xảy ra từ quanh tuổi 40 có thể
dẫn tới loãng xương. Bệnh loãng xương có
thể định nghĩa là sự mất xương bình thường
đến mức mà chấn thương nhẹ cũng gây ra
gẫy xương. Đồng thời với sự mất xương,
có sự biến đổi trong cấu trúc cả xương
vỏ lẫn xương lưới.
Xương
vỏ lõi trong mất đi rõ rệt trong khi màng ngoài
vẫn còn tăng ít nhiều. Do đó làm cho vỏ
mỏng hơn mà cũng tăng đường kính. Như vậy
sự mất sức rắn chắc cơ học thì nhỏ hơn
sự mất mô xương. (Hình 4.5). Đây cũng là trường
hợp con người trước thời công nghiệp khi
sinh hoạt hàng ngày thường lao động thể
lực. Ở phụ nữ nước Mỹ hiện đại, sự tăng
đường kính của các xương dài đang còn là
điều bàn cãi. Thế mà dường như sự tái
tạo xương của xương vỏ có lợi về mặt cơ
học lại phụ thuộc vào tải.
Hình
4.5. Sự tái tạo xương lưới (bè) và vỏ (đặc)
trong cuộc đời. (a) Trong xương lưới, bè
mỏng hơn đi và cũng xảy ra sự mất bè nhất
là các thớ bè không song song với trục chịu
tải chính. (b) Xương vỏ thỉ ống tủy rộng
ra, song đường kính ngoài của xương cũng to
ra, như vậy bảo toàn được sức bền vững cơ
học hơn là xương lưới.
Xương
lưới vượt trội về sự mất của các bè xương
ngang (ngang so với hướng chính mà tải nén lên),
trong khi các bè dọc theo hướng chịu tải cơ
học được bào tồn nhiều hơn (Hình 4.4).
Sự
mất thuần túy về sức vững chắc cơ học
ở xương lưới thì lớn hơn. Do đó, tính ròn
hoặc các chỗ gẫy do loãng xương thường hay
gặp nhất ở các vùng hành xương ví dụ xương
quay ra, xương đùi gần, xương cánh tay gần,
cổ chân và xương sống, cổ của xương đùi,
theo mô hình này mặc dầu có thể coi nó như
cấu trúc vỏ (Hình 4.6).
Hình
4.6. Các vị trí gẫy xương do ròn xương (loãng
xương): xương sống (a) và các chỗ tận cùng
(hành xương) của xương dài (b) thường hay
bị ảnh hưởng nhất. (a) gẫy do ép xương
sống gây ra đau lưng liên tục (cấp tính)
hoặc gián đoạn (mạn tính) từ giữa ngực đến
giữa thắt lưng (có khi đến dưới thắt lưng).
Cũng hay gẫy xương sườn (b). Những chỗ gẫy
ở xương dài hay xảy ra do chấn thương tối
thiểu (c). Xẹp ngực tiến triển làm mất
chiều cao và lồi bụng. Vẽ theo phép của
CIBA-Geigy.
Các
trường hợp gẫy xương đó xảy ra ở giới
hạn trên của tuổi tác, bắt đầu lúc
khoảng 50 tuổi và tăng lên theo lũy thừa với
tuổi. Điển hình là các gẫy xương gặp khi có
chấn thương với một lực nhẹ và ở trong nhà,
ví dụ gẫy xương cánh tay gần và háng. Một
số các gẫy xương như vậy thường gặp ở các
đối tượng hoạt động nhiều hơn và hay
gặp ở ngpài nhà, như gẫy xương quay xa và xương
cổ chân. Hay gặp nhất là gẫy xương sống,
thấy ở 25% nữ và 12% nam nguồn gốc xứ
Caucase ở tuổi 70.
Tỷ
lệ các loại gẫy xương này trong mấy chục năm
gần đây tăng cao và không giải thích được
bằng tuổi tác hoặc giới tính. Một trong
những yếu tố cơ bản là thiếu hoạt động
thể lực như y văn bàn cãi.
Dân
cư gốc Scandinave có tỷ lệ gẫy xương cao do
ròn xương trong khi người da đen ít bị loãng
xương và gẫy xương theo kiểu này.
Vấn
đề dự phòng quan trọng là liệu điểm đỉnh
về khối lượng xương cao hơn có làm cho bộ
xương được bảo toàn tốt hơn ở giới hạn
trên của tuổi tác và do đó ít gẫy xương vì
ròn xương hay không.
Hoạt
động thể lực là một nhân tố tích cực để
phục hồi xương và có thể sửa những biến
đổi sinh học cơ bản của xương do giới tính,
tuổi tác và các yếu tố chủng tộc và lối
sống quy định.
|