Chống Dopping / Dinh dưỡng TT / Chấn thương trong TT

Chấn thương trong thể thao

PHẦN 2: CHẤN THƯƠNG XƯƠNG

Bộ xương người gồm 212 xương với tổng khối lượng 12-14 kg. Nguyên tố calxi, thành phần quan trọng chất khoáng trong mô xương chiếm 2% tổng các nguyên tố trong cơ thể. Cùng với mô liên kết và các cơ bắp, bộ xương làm thành hệ nâng đỡ và vận động của cơ thể, xương có khả năng tái tạo tuyệt vời và có thể thay đổi tính chất và cấu hình để đáp ứng yêu cầu cơ học. Có 2 kiểu hình thái học của xương: i) Hệ xương bè (hệ lưới), ii) Hệ vỏ (hệ đặc). Cái khác nhau chủ yếu là ở độ xốp. Độ xốp thay đổi từ 5-30% ở xương hệ vỏ và từ 30-90% ở xương hệ lưới.

Hệ vỏ thấy ở thân các xương dài, hộp sọ và xương hàm dưới. Trong khi xương hệ lưới thấy ở đầu cùng các xương dài, hành xương, xương sống, bên trong các xương cổ tay và chân.

CHUYỂN HÓA CỦA XƯƠNG

Sinh lý học xương

Bộ xương gồm có các thành phần hữu cơ và vô cơ. Thành phần hữu cơ, 30%, bao gồm chất tạo keo, glucoprotein, phosphoprotein, mucopolysaccharid hoặc glycosaminoglycan (GAG) và lipid.

Thành phần vô cơ, 70%, gồm chủ yếu là các tinh thể hydroxyapatit (Ca10(PO4)6(OH)2) có tính chất vật lý của gốm sứ và thành tố quan trọng nhất là calci. Hàng ngày cần sử dụng 800mg calci. Số lượng cần dùng được đề nghị khác nhau tùy từng nước. Lúc có thai và cho con bú thì yêu cầu nhiều hơn. Sự mất xương ở người già phụ thuộc tuổi tác có thể giảm đi nếu đề nghị cho dùng tăng calci, 1000mg mỗi ngày trở lên. Mặt khác, sự thiếu hụt calci khiến phải huy động đến calci trong bộ xương... bằng calci nội môi ưu tiên trước hết ở nồng độ trong huyết tương.

Magnesium, ... cũng như các khoáng chất khác đều là thành phần vô cơ của xương.

Bộ xương có khả năng tái tạo duy nhất trong suốt cuộc đời. Sự mất đi do hủy cốt bào diễn ra liên tục cùng với sự tạo thành xương từ nguyên bào xương. (Hình 4.3). Sự tái tạo máu tổ chức rất tốt này diễn ra trong những đơn vị nhỏ bé gọi là đơn vị chuyển hóa cơ bản (basic metabolic unit - BMU). Về khả năng này, xương khác các mô liên kết khác trong cơ thể.

Hình 4.3. Hình vẽ sơ lược một số giai đoạn tái tạo xương. Xương mảnh vụn hấp thu lại và nguyên bào xương kết lại thành xương mới. Hình vẽ trình bày một đơn vị chuyển hóa cơ bản. (a) Giai đoạn nghỉ; (b) Hấp thu lại; (c) Tạo xương và (d) Giai đoạn nghỉ.

Các nguyên bào xương có một số lượng lớn các thụ thể ví dụ thụ thể estrogenm progesteron, hormon cận giáp (PTH) và các hormon khác. Cũng có những thụ thể khác đối với nhiều yếu tố tăng trưởng khác nhau. Các mảnh xương thì có ít thụ thể và được điều chỉnh từng phần bởi các nguyên bào xương. Sự tái hấp thu của xương được kích thích do mặt ngoài của xương bị bộc lộ không có các tế bào lót.

Tế bào xương là những tế bào trưởng thành nằm trong xương. Chúng có tuổi thọ cao tới hai mươi năm hoặc hơn nữa. Chúng cũng tham gia việc tái tạo như đã nói trên.

Có lúc tới khoảng 5% xương ở trong giai đoạn tái tạo.

Sự chuyển hóa bình thường

Trong cuộc đời, khối lượng xương thay đổi. Lúc thơ ấu và lúc thiếu niên thì tăng khối lượng, ở tuổi trưởng thành thì đạt tới điểm đỉnh. Có một vài chỗ còn tranh cãi là liệu có một điểm đỉnh thật sự về khối lượng xương hay chỉ có một miền cao ở khoảng 20-25 tuổi đến 35-40 tuổi. Dẫu sao từ điểm cực đại đó có sự mất xương bắt đầu từ tuổi 35, mà ở phụ nữ thì có một giai đoạn nhanh bắt đầu lúc mãn kinh. Hàng năm phụ nữ mất đi 1-2%.

Đàn ông cũng có sự suy thoái tương tự về khối lượng xương, song bắt đầu chậm hơn ít nhiều vào khoảng tuổi 45 và tỷ lệ ít hơn phụ nữ một chút, hàng năm 0,5-1% (Hình 4.4). Khối lượng xương cực đại trong đời người ở đàn ông cao hơn so với đàn bà. Lý do là tác động của hormon sinh dục chủ yếu là testosteron, khối lượng cơ và khối lượng cơ thể lớn hơn, gây ra sự tăng tải lên bộ xương.

Hình 4.4. Hàm lượng khoáng trong cuộc đời. Sự mất diễn ra nhanh chóng hơn giữa tuổi 45 và 65.

Ở tuổi mãn kinh, estrogen ở đàn bà bắt đầu suy thoái và tác động tích cực của hormon đó tới bộ xương bắt đầu biến mất.

Bệnh loãng xương

Loãng xương và xốp xương hoặc gẫy xương do ròn là một bệnh dịch ở Châu Âu, Bắc Mỹ và trở thành một vấn đề y tế lớn.

Sự mất xương xảy ra từ quanh tuổi 40 có thể dẫn tới loãng xương. Bệnh loãng xương có thể định nghĩa là sự mất xương bình thường đến mức mà chấn thương nhẹ cũng gây ra gẫy xương. Đồng thời với sự mất xương, có sự biến đổi trong cấu trúc cả xương vỏ lẫn xương lưới.

Xương vỏ lõi trong mất đi rõ rệt trong khi màng ngoài vẫn còn tăng ít nhiều. Do đó làm cho vỏ mỏng hơn mà cũng tăng đường kính. Như vậy sự mất sức rắn chắc cơ học thì nhỏ hơn sự mất mô xương. (Hình 4.5). Đây cũng là trường hợp con người trước thời công nghiệp khi sinh hoạt hàng ngày thường lao động thể lực. Ở phụ nữ nước Mỹ hiện đại, sự tăng đường kính của các xương dài đang còn là điều bàn cãi. Thế mà dường như sự tái tạo xương của xương vỏ có lợi về mặt cơ học lại phụ thuộc vào tải.

Hình 4.5. Sự tái tạo xương lưới (bè) và vỏ (đặc) trong cuộc đời. (a) Trong xương lưới, bè mỏng hơn đi và cũng xảy ra sự mất bè nhất là các thớ bè không song song với trục chịu tải chính. (b) Xương vỏ thỉ ống tủy rộng ra, song đường kính ngoài của xương cũng to ra, như vậy bảo toàn được sức bền vững cơ học hơn là xương lưới.

Xương lưới vượt trội về sự mất của các bè xương ngang (ngang so với hướng chính mà tải nén lên), trong khi các bè dọc theo hướng chịu tải cơ học được bào tồn nhiều hơn (Hình 4.4).

Sự mất thuần túy về sức vững chắc cơ học ở xương lưới thì lớn hơn. Do đó, tính ròn hoặc các chỗ gẫy do loãng xương thường hay gặp nhất ở các vùng hành xương ví dụ xương quay ra, xương đùi gần, xương cánh tay gần, cổ chân và xương sống, cổ của xương đùi, theo mô hình này mặc dầu có thể coi nó như cấu trúc vỏ (Hình 4.6).

Hình 4.6. Các vị trí gẫy xương do ròn xương (loãng xương): xương sống (a) và các chỗ tận cùng (hành xương) của xương dài (b) thường hay bị ảnh hưởng nhất. (a) gẫy do ép xương sống gây ra đau lưng liên tục (cấp tính) hoặc gián đoạn (mạn tính) từ giữa ngực đến giữa thắt lưng (có khi đến dưới thắt lưng). Cũng hay gẫy xương sườn (b). Những chỗ gẫy ở xương dài hay xảy ra do chấn thương tối thiểu (c). Xẹp ngực tiến triển làm mất chiều cao và lồi bụng. Vẽ theo phép của CIBA-Geigy.

Các trường hợp gẫy xương đó xảy ra ở giới hạn trên của tuổi tác, bắt đầu lúc khoảng 50 tuổi và tăng lên theo lũy thừa với tuổi. Điển hình là các gẫy xương gặp khi có chấn thương với một lực nhẹ và ở trong nhà, ví dụ gẫy xương cánh tay gần và háng. Một số các gẫy xương như vậy thường gặp ở các đối tượng hoạt động nhiều hơn và hay gặp ở ngpài nhà, như gẫy xương quay xa và xương cổ chân. Hay gặp nhất là gẫy xương sống, thấy ở 25% nữ và 12% nam nguồn gốc xứ Caucase ở tuổi 70.

Tỷ lệ các loại gẫy xương này trong mấy chục năm gần đây tăng cao và không giải thích được bằng tuổi tác hoặc giới tính. Một trong những yếu tố cơ bản là thiếu hoạt động thể lực như y văn bàn cãi.

Dân cư gốc Scandinave có tỷ lệ gẫy xương cao do ròn xương trong khi người da đen ít bị loãng xương và gẫy xương theo kiểu này.

Vấn đề dự phòng quan trọng là liệu điểm đỉnh về khối lượng xương cao hơn có làm cho bộ xương được bảo toàn tốt hơn ở giới hạn trên của tuổi tác và do đó ít gẫy xương vì ròn xương hay không.

Hoạt động thể lực là một nhân tố tích cực để phục hồi xương và có thể sửa những biến đổi sinh học cơ bản của xương do giới tính, tuổi tác và các yếu tố chủng tộc và lối sống quy định.