Chống Dopping / Dinh dưỡng TT / Chấn thương trong TT

Chấn thương trong thể thao

PHẦN 1: CHIẾN LƯỢC PHÒNG NGỪA CÁC CHẤN THƯƠNG CƠ XƯƠNG

Phòng ngừa tật bệnh và tàn phế là một tiêu điểm luôn luôn mới của y học hiện đại. Nên nhấn mạnh điều đó vì sự giáo dục về dinh dưỡng, về lối sống, về môi trường và về sự cẩn trọng tỏ ra đã làm giảm thiểu nhiều những chi phí trực tiếp và gián tiếp liên quan đến những nguyên nhân giết người như cơn đau tim, đột quị, ung thư và tai nạn. Cho mãi đến trước khi có được những thuốc men kỳ diệu ở thế kỷ trước, y học thường chỉ xoáy vào việc giáo dục người tiêu dùng nhằm cố gắng loại trừ những điều kiện không vệ sinh gây ra những nhiễm khuẩn dịch tễ. Song đến khi các thuốc kỳ diệu được phát minh và được sản xuất ra thì công chúng trở nên những người tiếp thu thụ động việc chăm sóc y tế, minh họa cho "mô hình y học" mà Brickman đã miêu tả, trong đó cá nhân chẳng còn trách nhiệm gì để hạn chế bệnh tật cũng như để sống tốt hơn (Brickman và CS, 1992). Công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng các thay đổi về tập tính dễ có thể xảy ra hơn nếu cá nhân đảm đương trách nhiệm tự mình chạy chữa bất kể thiếu sót của họ như thế nào (mô hình bù trừ) hoặc nếu cá nhân đảm đương trách nhiệm cả về điều trị lẫn về tổn thương (mô hình đạo lý). Ngày nay, một sự thay đổi như vậy trong phương pháp tiếp cận đòi hỏi sự giáo dục của thấy thuốc thực hành cũng như của người sử dụng y học.

Tiêu điểm của chương này là phòng ngừa các chấn thương hệ cơ xương cho vận động viên, bàn luận từ quan điểm công trình nghiên cứu liên quan và hướng vào việc giáo dục người vận động viên đảm đương trách nhiệm phòng tránh thương tổn. Tổng quan các nguyên nhân gây thương tích sau đó thảo luận việc phòng ngừa thương tích tại nơi vận động bởi vì có liên quan đến số lượng tài liệu đồ sộ. Việc xem xét chung trong một chương trình phòng ngừa chấn thương sau đó được thảo luận, tập trung chú ý đến hệ xương cơ. Cuối cùng trình bày một chiến lược toàn diện để ngăn ngừa chấn thương:

PHÒNG NGỪA CHẤN THƯƠNG: CÁC YẾU TỐ TOÀN THÂN

Sung sức

Sung sức toàn thân có ý nghĩa dự phòng với chấn thương (Jesse, 1977). Khả năng chịu đựng của hệ tim mạch có tầm quan trọng cơ bản với sung sức. Chỉ số đơn giản nhất về sự sung sức của tim mạch là VO2max, là một chỉ dẫn xem các mô sử dụng được oxygen hấp thu hiệu quả ra sao. Vì mối liên quan giữa VO2max và môn chạy cự li (Cooper, 1968), các nghiệm pháp đơn giản như chạy 12 phút có thể dùng để tính lượng oxygen tối đa hấp thu. Kulund (1982) cho biết việc thăm khám sàng lọc về tim mạch trước mùa thi đấu thường tìm ra nhiều tình trạng bệnh lí nghiêm trọng. Tuy nhiên một bảng câu hỏi do thầy thuốc nêu lên các yếu tố gây nguy cơ trước tiên phải xác định được những cái không được sàng lọc (Schlife, 1982).

Chết đột ngột là tai biến có thể có khi tập luyện, song hút chết thì còn có hậu quả rất nghiêm trọng gây stress quá mức cho cơ thể. Đã thấy người chạy marathon, kyacker cao tuổi và nhiều loại vận động viện khác bị vỡ mô do hoạt động quá mức, đến lượt sự hoạt động quá mức này lại thúc đẩy các đáp ứng tự miễn dịch kể cả đau khớp, sưng, sốt, mồ hôi trộm và nhược sức kéo dài mấy tuần lễ. Sự sung sức về tim mạch là điều quan trọng và người ta không nên vượt quá mức sung sức của mình.

Arnot đã tóm tắt các hiệu ứng do tập luyện có được đối với tim, đã nói rằng với người lớn bắt đầu tập luyện có thể phát triển hệ tim với tiềm lực đầy đủ của nó trong 3 năm, trong khi người trẻ hơn thì tới 8 năm. Luyện tập nặng sẽ làm tăng độ dày tâm thất trái trong khi luyện tập bền bỉ thì tăng thể tích tâm trương - tận, khối lượng tâm thất trái và có thể cả sự co bóp, song các biến đổi về kích thước động mạch vành thì chưa khẳng định. Về ngoại vi thì có giảm tính bền vững đối với dòng máu, điều này liên quan đến sự co các động mạch và cũng tăng trong mạng lưới mao mạch (Arnot, 1981). Các bảng đối chiếu theo tuổi, như các bảng do Hội Tim học Hoa Kỳ xuất bản đã khuyến nghị các mức độ tập luyện an toàn với tim, nên được theo đúng.

Tình trạng dinh dưỡng

Có nhiều tư liệu về chế độ ăn uống và thành tích thi đấu kể cả việc thảo luận về các vitamin, các chất phụ gia, các hydrat carbon và các protein. Phòng ngừa chấn thương trong thể thao có nghĩa là chú ý đến tình trạng dinh dưỡng và chế độ ăn uống. Chán ăn hoặc nhịn ăn gây teo và yếu các cơ bắp gần, rối loạn các khớp háng và khớp vai nếu người này tham gia các thể thao mạnh.

Thiếu vitamin ở một tập thể bình thường thường không thành vấn đề vì vitamin không phải là các vật liệu xây dựng cơ thể và vì các chế độ ăn uống cân bằng nói chung đều cung cấp được vitamin cần thiết. Tuy vậy, vitamin C có thể thiếu đối với phụ nữ có thai, người nghiện ma túy nặng, những người làm việc nặng chịu nhiều stress và những người có chế độ ăn nhiều cholesterol (Kavanagh, 1976). Trong các trường hợp này, nghĩ rằng nên bồi phụ vitamin C.

Việc cung cấp nước là thiết yếu đối với cân bằng nội môi của cơ thể. Vận động viên có thể mất đi 1-1,8kg trong một cuộc thi đấu và nên khuyên dùng chất lỏng trước khi thi đấu. Cà phê, chè, cola hoặc coca thì không nên dùng vì tăng bài tiết nước tiểu (Kavanagh, 1976).

Béo phì là có tỷ lệ mỡ quá 20% ở đàn ông và quá 30% ở đàn bà (Wickkiser và Kelly, 1975), là điều kiện bất lợi đối với vận động viên vì quá nặng (Ryan và Allman, 1974). Tỷ lệ mỡ dưới 5% được coi là ít quá và không đủ sức khỏe. Mỡ của cơ thể có thể xác định bằng cách cân dưới nước hoặc bằng một công thức đơn giản hơn liên quan đến bề dày nếp da ở bụng, ở cánh tay trên và ở háng (Jette và CS, 1979).