|
PHÒNG NGỪA CHẤN THƯƠNG: CÁC
YẾU TỐ TÂM LÝ XÃ HỘI
Vì tại Mỹ, hàng nhiều tỉ
đôla đã tiêu phí cho công nghiệp do các chấn
thương trong công nhân lao động nên các nhà
nghiên cứu đã khảo sát nguyên nhân tập trung
gây chấn thương nơi làm việc. Một số các
phát hiện có thể rất thích hợp để phòng
ngừa chấn thương trong thể thao. Chẳng hạn
một chấn thương trước đó trong năm ngoái là
chìa khóa báo động có thể có tái chấn thương,
dù cho các nhân tố đó đã tham dự một chương
trình phục hồi chức năng và đã có vẻ như
hoàn toàn hồi phục. Không có mối liên quan
biểu kiến giữa mức độ nặng nhẹ của
vết thương nguyên thủy và vết tái thương
song sự giống nhau về tái thương là có thật
vì các chấn thương tái phát thường nặng hơn
(Horal, 1969).
Một người lao động mà các
yêu cầu nghề nghiệp của họ vượt quá khả
năng thể lực của anh/chị ta thì hoàn thành
được công việc sẽ có nhiều nguy cơ chấn
thương. 12% sức lao động ở Mỹ có nghề yêu
cầu nâng vác vượt qua thời hạn tối đa cho
phép (maximal permissable limit - MPL) để nâng vác
đã được Viện quốc gia về An toàn và Y tế
nghề nghiệp xác định (National Institute of
Occupational Safety and Health - NIOSH) (Pope, 1991) quy
định. Nếu yêu cầu nghề nghiệp có thể vượt
quá khả năng người ấy như vậy. Vì vậy cá
nhân phải biết (hoặc phải được bảo ban)
về các yêu cầu của các môn thể thao khác
nhau và anh/chị ta có đủ khả năng thể lực
để tham gia một cách an toàn hay không.
Trong các dung mạo khác nhau
của việc nghiên cứu chấn thương nơi làm
việc cũng có thể áp dụng vào các chấn thương
thể thao, mặc dù nhìn qua có thể chưa thấy
ngay. Chẳng hạn, mặc dù sự thỏa mãn với
nghề nghiệp của một người là tiêu chuẩn
thích hợp để phòng ngừa chấn thương tại
chỗ nơi làm việc (Cats - Baril và Frymoyer,
1991), người ta có thể cho rằng một người có
thể cho rằng một người có thể không tham
gia thể thao hoặc hoạt động giải trí nếu
không được khuyến khích. Tuy nhiên, với sự
say mê gần đây về môn chạy dai sức và các
cuộc đấu tranh với cái béo, sự tham gia bắt
buộc vào hoạt động điền kinh có thể có
nhiều cái chung với sự khó chịu tại nơi làm
việc và do đó dễ tăng tiềm năng chấn thương.
Các nghiên cứu về môi trường
tại sân bãi thể thao, cũng như tại nơi làm
việc cũng quan trọng. Sự chú ý đến việc
chiếu sáng, an toàn nơi sân bãi, nhiệt độ,
độ ẩm và ô nhiễm hết sức liên quan đến
thành tích an toàn.
Đôi khi tại nơi làm việc
một người công nhân có thể cảm thấy ông
chủ hoặc hệ thống có toàn bộ trách nhiệm
để làm sao mọi việc được thi hành và một
sự thoái thác trách nhiệm như vậy làm tăng
thêm khả năng chấn thương. Mặc dù một cá
nhân trong hoạt động thể thao không thể có
được thái đó một cách có ý thức, có một
mối hiểm họa là người ta tin tưởng quá đáng
vào sự an toàn của cơ cấu bảo vệ, vào hành
động của các đồng đội khác, hoặc vào
tiếng còi đúng lúc của trọng tài. Hiểu
biết và tuân thủ luật lệ và qui định thể
thao là thành phần chủ yếu của việc tự
bảo vệ tránh chấn thương. Một lần nữa,
chấp nhận mô hình bù trừ và mô hình đạo
đức của Brickman thì cá nhân cần phải học
để nhận lãnh trách nhiệm và hiểu biết đầy đủ những thử thách và khả năng thể lực
cũng như tinh thần cần thiết để đáp ứng
nhu cầu.
Cái giống nhau nữa giữa
thực tế hằng ngày tại nơi làm việc và trên
bãi tập là ở chỗ người nào mới bị thương
gần đây thì phải nghỉ ngơi và giảm bớt
sự cố gắng thể lực nhằm hàn gắn phục
hồi. Không tham dự một công việc hoặc một
môn thể thao chẳng phải dễ dàng, đó không
nằm trong phần văn hóa mà chúng ta mong đợi
song lại nằm trong chiến lược quản lý mà
mọi bên đều củng cố.
Tránh một vết thương nhỏ
làm hại đến mô mềm bao quanh, làm suy sút
sự dinh dưỡng cho khớp nối và có thể gây
ra tổn hại nhiều hơn. Không được bỏ qua
những vết thương nhẹ, bởi vì các vận động
viên dễ chấn thương có khuynh hướng tự chê
bai quá đáng (Nilson, 1986), cần tránh khuynh hướng
muốn chiếm ưu thế và muốn tiếp tục thi đấu.
Dùng nước đá hay thuốc giảm đau để tiếp
tục thi đấu là mối nguy hiểm thực sự vì các
phản xạ hô hấp và tim mạch bình thường đều
giảm đi khi phong bế các thụ thể cảm đau, làm
tăng tiềm năng tiếp tục chấn thương (Newham,
1991).
Trong nền văn hóa phương Tây,
đạo đức lao động truyền đạt rằng làm
việc là tốt thậm chí cả khi chúng ta cảm
thấy không thích làm việc. Cười và chịu đựng
hoặc như Churchill nói, nhiều công trình của
thế giới được làm nên bằng những người
chịu đau đớn. Có một ranh giới đâu đó
giữa cái trò giả ốm trốn việc và sự thúc
dục bất kể những dấu hiệu báo động ở cơ
thể (như sốt, mệt mỏi hoặc quẫn trí). Có
những dấu hiệu báo động như vậy thì cần
ngăn không cho tham gia thể thao để tránh chấn
thương, song chúng ta đã được kiên trì dạy
bảo rằng các dấu hiệu báo động như vậy
chẳng mảy may đáng lưu ý.
Stress tâm lý là yếu tố
phụ thêm góp phần cho tiềm năng chấn thương.
Có một số đặc điểm liên quan đến stress
sinh học, sinh lí học, tâm lí học hay tổng
hợp. Một vài stress, nếu được thừa nhận,
có thể quản lí được và cải thiện được.
Vận động viên và các đồng đội hiểu
biết các yếu tố stress thì có thể giảm
bớt tác động chấn thương.
Sự lớn lên của cơ thể là
một stress đối với hệ cơ xương. Bởi vì đa
số thanh niên đều tham gia thể thao nên các
stress của một hệ thống tăng trưởng lên cơ,
dây chằng gân và xương cần phải được tính
đến.
|