|
|
Ngày 2/10/2006, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Quyết
định số 1061/2006/QĐ-CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao
động cho Viện sĩ, tiến sĩ Nguyễn Duy Cương, Chủ tịch Hội
Dược học Việt Nam đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong
lao động sáng tạo từ năm 1996-2005, góp phần vào sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Lễ phong tặng
được tổ chức ngày 1/5/2007 tại TP. Hồ Chí Minh.
Tham gia chiến đấu giải phóng miền Nam
Năm 1955 tập kết ra Bắc, ông được cử làm phụ trách dược Sở Y
tế Quảng Ninh, sau đó đảm nhiệm: Phó văn phòng, Trưởng phòng
đối ngoại, Vụ phó, rồi làm Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài vụ Bộ Y
tế và là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam.
Năm 1970, Trung ương Đảng điều động dược sĩ (DS) Nguyễn Duy
Cương về miền Nam, công tác trong nội thành Sài Gòn.
Tháng 3/1970, DS. Cương được vinh dự đi cùng đồng chí Nguyễn
Văn Linh, Bí thư Trung ương Cục; đồng chí Trần Bạch Đằng, Bí
thư Khu ủy Sài Gòn-Gia Định về Nam theo đường Bắc Kinh -
Thượng Hải - Phnômpênh. Ngày hôm sau tập đoàn Lonnon đảo
chính chính quyền Sihanouk. Lập tức ông len lỏi về căn cứ
khu ủy ở Mỏ Cày (Bến Tre) rồi về Sài Gòn.
DS. Nguyễn Duy Cương được giao nhiệm vụ Phó ban Mặt trận trí
vận Sài Gòn và lấy tên là Ba Trực. Từ căn cứ, nữ chiến sĩ
giao liên Bảy Y (Huỳnh Hồng Châu) đưa ông về thành, trú tại
một nhà cơ sở, nhưng ngày hôm sau, trên đường công tác, bị
địch bắt, bị tra tấn rất dã man, chị vẫn kiên trung không
khai báo. Địch đưa chị ra nhà tù Côn Đảo cho tới ngày giải
phóng. Sống trong lòng địch, người chiến sĩ hoạt động trong
nội thành luôn luôn phải đối phó với việc bị địch bắt và cái
chết luôn đe dọa. Ông làm đủ nghề để tự che giấu và cuối
cùng đóng vai người bán thuốc trong một nhà thuốc tây thân
hữu. Làm công tác phải có trách nhiệm liên lạc với tổ chức,
phải hội họp nhận chỉ thị và báo cáo công tác, hoặc có việc
cần tiếp xúc với các tầng lớp trí thức, ông phải đóng vai
thuộc nhiều nghề. Bằng mưu trí và dũng cảm, ông đã thoát
khỏi sự truy bắt của mạng lưới cảnh sát, quân cảnh, mật vụ
của ngụy quyền cực kỳ gian ngoan và độc ác suốt 5 năm trời.
Hằng ngày, ông phải giữ gìn từng cử chỉ, lời nói, tác phong.
Dù có gặp người quen cũng phải làm như không biết, tối tối
trước khi đi ngủ, ông nhớ lại mọi sự việc xảy ra trong ngày,
tự vấn xem mình có sơ hở hay mất cảnh giác đề phòng. Ngày
Tết, phải nói với chủ nghỉ mấy ngày về thăm gia đình ở tỉnh,
nhưng sự thực là đi đến tạm trú nhờ một căn nhà mà chủ nhà
về quê nhường chỗ cho ông tá túc, sống lặng lẽ một mình
trong nhà mà bên ngoài đã được khóa cửa cho qua những ngày
Tết. Ông chiến thắng gian nguy, đã hoàn thành vẻ vang nhiệm
vụ, và được cùng với nhân dân Sài Gòn đón chào ngày giải
phóng.
Cuối năm 1974, ông đã thành lập Hội Trí thức yêu nước thành
phố. Sau đó, DS. Nguyễn Duy Cương, Chủ tịch Hội Trí thức yêu
nước được cử làm Tổng Thư ký Ủy ban Nhân dân cách mạng
TP.HCM. Năm 1976–1981, ông là Thành ủy viên, Ủy viên UBND
TP.HCM, đồng thời là Giám đốc Sở Y tế TP.HCM, người giám đốc
sở y tế đầu tiên của cả nước là DS.
Giám đốc Sở y tế năng động
Với cương vị của mình, ông là người sứ giả của cách mạng tập
hợp, đoàn kết giới trí thức mà trước đây ông kịp thời trấn
an và thuyết phục không di tản ra nước ngoài, yên tâm ở lại
xây dựng vùng mới giải phóng, tin tưởng các chủ trương chính
sách và đường lối của Đảng và Chính phủ. Ông góp phần cùng
với lãnh đạo Đảng và chính quyền thành phố lo toan giải
quyết nhiều việc, với biết bao khó khăn của một thành phố
chỉ quen tiêu thụ, nhiều người thất nghiệp, tệ nạn xã hội,
đời sống khó khăn.
Ở miền Bắc, không có việc hành nghề y dược tư nhân, nhưng
tại Sài Gòn phải có chủ trương phù hợp. Là Giám đốc Sở y tế,
ông nhận thấy bệnh viện công lập không đáp ứng được yêu cầu
khám chữa bệnh của dân. Được sự chấp thuận của đồng chí Bí
thư Thành ủy, ông chủ trương cho phép các bác sĩ lớn tuổi kể
cả các sĩ quan quân y chế độ cũ, sau khi đã đi học tập trung
ngắn hạn được ông bảo lãnh trở về, được mở phòng khám bệnh
tư nhân. Việc này rất có ý nghĩa, đã giúp cho cuộc sống của
họ tốt, tốt cả ý nghĩa về chính trị và tinh thần. Ngoài ra
ông còn đề nghị lãnh đạo thành phố và cơ quan hải quan cho
phép người Việt Nam ở nước ngoài được gửi thuốc men về cho
thân nhân dưới dạng quà biếu, để Công ty Dược phẩm thành phố
mua lại, góp phần giải quyết được tình trạng khan hiếm thuốc
và cũng là khoản giúp đỡ tài chính cho gia đình và người
thân của họ.
Ông tổ chức tiếp nhận và quy hoạch lại tất cả các cơ sở dược
tư nhân trong thành phố thành 7 liên viện bào chế, sau trở
thành 7 xí nghiệp dược phẩm quốc doanh Trung ương, đồng
thời tập hợp các cơ sở sản xuất nhỏ thành 3 xí nghiệp dược
phẩm của thành phố và tổ chức mạng lưới y dược đến tuyến xã
phường để phục vụ cộng đồng.
Vì một ngành dược đổi mới
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ Trưởng đoàn y tế Việt Nam ở
Campuchia (1979-1981), DS. Nguyễn Duy Cương tiếp tục công
tác Thứ trưởng và phụ trách công tác dược của Bộ Y tế tới
năm 1991. Năm 1989 ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ tại
Tiệp Khắc với đề tài về đổi mới công tác của ngành dược để
phục vụ tốt cộng đồng, đề tài được hội đồng chấm luận án
khen về những ý tưởng mới và đúng. Năm 1996, ông là người
thứ ba của Việt Nam được Viện Hàn lâm Dược học quốc gia Pháp
phong tặng Viện sĩ thông tấn Hàn lâm và năm 1997 Tổng thống
Cộng hòa Áo tặng thưởng Đại Huân chương vàng.
Ông nhanh chóng tiếp thu tinh thần của công cuộc đổi mới
theo nghị quyết Đại hội Đảng VI (1986): dám nghĩ, dám làm,
dám chịu trách nhiệm trước Nhà nước trong cương vị của mình:
Trong thời bao cấp, như nhiều loại hàng hóa thuốc được bán
theo 2 giá: giá cung cấp cho cán bộ và giá cao hơn cho dân.
Cơ chế này làm phát sinh nhiều tiêu cực. Từ đầu năm 1987,
Thứ trưởng Nguyễn Duy Cương đã đề xuất cơ chế một giá, một
thị trường, đầu tiên áp dụng thí điểm tại Thái Bình, sau đó
Bộ Y tế coi là một chủ trương đúng và thực hiện trong cả
nước.
Đề xuất và được cấp trên chấp nhận ông đã ký thông tư cho
phép cho DS được mở nhà thuốc tư nhân, với điều kiện DS phải
trực tiếp quản lý, bảo đảm chất lượng thuốc và an toàn cho
người bệnh. Việc này: động viên được nhiều DS có sức khỏe,
tham gia vào mạng lưới bán lẻ thuốc cho dân. Thuốc không còn
trôi nổi tự do, người bệnh được mua thuốc dễ dàng.
Theo chủ trương của Chính phủ, ông đứng ra thành lập và trực
tiếp làm Giám đốc Liên hiệp các xí nghiệp Dược Việt Nam thay
cho một tổng công ty đã lỗi thời, để mở rộng cộng tác và
phân phối, xây dựng các xí nghiệp các tỉnh thành. Ông đề
nghị Bộ Ngoại thương chuyển cho Bộ Y tế công tác xuất nhập
khẩu thuốc men, lâu nay do Công ty Xuất nhập khẩu khoáng sản
đảm nhận. Ông thành lập và là Giám đốc Công ty Xuất nhập
khẩu Y tế (Vimedimex) đặt tại TP.HCM.
Sau khi các dược sĩ được tham gia hệ thống bán lẻ thuốc, ông
đã đề xuất để tư nhân tham gia hệ thống bán buôn theo các
công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Đầu năm
1990, ông tổ chức thành lập Trung tâm Dược phẩm Việt Nam.
Năm sau có Luật Công ty của Nhà nước ban hành, các điều lệ
hoạt động của trung tâm đều đúng với các quy định của Nhà
nước, đổi tên mới là Công ty cổ phần Y Dược phẩm Việt Nam.
Công ty hoạt động có hiệu quả: doanh số cao, có nền tài
chính lành mạnh thu nhập của các thành viên khá. Ông là Tổng
giám đốc của công ty từ đó cho đến nay.
TS. Nguyễn Duy Cương được liên tục bầu là Chủ tịch Hội Dược
học Việt Nam từ 25 năm nay, với nhiều hoạt động đẩy mạnh
công tác hội trong nước và với các hội quốc tế. Ông là người
trực tiếp tổ chức việc xuất bản Tạp chí Thuốc & Sức khỏe
nhằm phổ cập kiến thức về bệnh tật và thuốc men cho cán bộ
dược và giúp nhân dân tự bảo vệ sức khỏe cho mình. Trong 15
năm, tạp chí ra được 331 số, mỗi tháng 2 kỳ, mỗi kỳ từ
40.000 đến 50.000 bản. Ông là Tổng Biên tập và chỉ đạo, viết
trên 800 bài trong đó trực tiếp hầu hết các xã luận. Tờ báo
đã hoạt động đều đặn, đã dành phúc lợi ủng hộ cho các hoạt
động của Hội Dược học và xuất bản tờ báo Tiếng Pháp Revue
Pharmaceutique là tiếng nói của Hội Dược học Việt Nam với
Liên đoàn Dược thế giới.
Với tinh thần làm việc say mê tận tụy và trách nhiệm, lối
sống gương mẫu, tác phong cởi mở, giản dị, đoàn kết, ông còn
tham gia nhiều công việc có ích cho đất nước, cho ngành y
tế. TS. Nguyễn Duy Cương đã cống hiến hết sức mình cho sự
nghiệp chung và xứng đáng là cán bộ ưu tú của Đảng, của nhân
dân.
(Theo SKĐS, 28/4/07) |
|