gioithieu.gif (1388 bytes)

tracuu.gif (1282 bytes)

Hoi dap.gif (1318 bytes)

Trangchu.gif (1393 bytes)

Menuchinh.gif (2285 bytes)
Tin tức
liệu
Chính sách y tế
Danh nhân y học
Thống kê y tế
Chăm sóc sức khỏe
Bệnh thường gặp
ợc phẩm
Y học cổ truyền
Trang thiết bị Y tế
Y học thể thao
Công nghệ thông tin
Truyền thông GDSK
Các cơ quan khoa học
Giải trí

Protein có liên quan tới tình trạng kháng insulin ở người

Hạ thấp nồng độ protein có hàm lượng cao hơn ở những người kháng insulin có thể làm giảm nguy cơ bị bệnh tiểu đường, hội chứng chuyển hoá và bệnh tim mạch.

Phát hiện này có thể giúp việc sàng lọc phát hiện tình trạng kháng insulin, một xét nghiệm mới có thể đánh giá tốt hơn hiệu quả của chế độ ăn và chương trình luyện tập đối với việc làm giảm nguy cơ bị tiểu đường, và những liệu pháp mới nhằm làm giảm nồng độ phân tử protein có tên retinol-binding protein 4 (RBP4). RBP4 thường được cơ thể sử dụng để vận chuyển vitamin A trong máu.

Các nhà khoa học của Trường Đại học Y khoa Harvard cho biết, trong nghiên cứu này, họ đã phát hiện mối liên quan giữa RBP4 với tình trạng kháng insulin nhưng họ không thể chắc chắn liệu RBP4 chỉ đơn giản là một chỉ báo của tình trạng kháng insulin hay nó thực sự gây ra tình trạng kháng insulin.

Tuy nhiên, nghiên cứu trước đó được tiến hành trên động vật lại có vẻ cho thấy RBP4 có thể giữ một  vai trò nào đó trong việc hình thành tình trạng kháng insulin.

Vì các nghiên cứu trên động vật cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa RBP4 với tình trạng kháng insulin nên các nhà nghiên cứu muốn biết liệu có mối liên quan giữa protein này với tình trạng kháng insulin ở người hay không.

Để đánh giá mối liên quan ở người, các nhà nghiên cứu đã xem mẫu máu lấy từ người dân ở 3 khu vực khác nhau: California (Mỹ), Thụy Điển và Đức. Họ đã chọn 3 nhóm người khác nhau – nhóm đông nhất gồm 60 người.

Nhóm thứ nhất gồm những người gầy, người béo phì không bị tiểu đường và người béo phì bị tiểu đường týp 2. Nhóm thứ 2 gồm những người có chuyển hoá đường bình thường, giảm chuyển hoá đường hoặc người bị tiểu đường týp 2. Nhóm cuối cùng gồm những người không béo phì có tiền sử gia đình bị bệnh tiểu đường týp 2.

Ở nhóm đầu tiên, những người gầy có nồng độ RBP4 thấp nhất, với nồng độ trung bình là 24 mcg/ml. Với người béo phì không bị tiểu đường, nồng độ trung bình là 39 mcg/ml, trong khi người béo phì bị tiểu đường có nồng độ trung bình là 41 mcg/ml.

Những người trong nhóm thứ 2 có tình trạng kháng insulin có nồng độ RBP4 cao hơn. Ở nhóm dung nạp đường bình thường có nồng độ trung bình là 26 mcg/ml, trong khi những người bị suy giảm dung nạp đường có nồng độ trung bình là 60 mcg/ml. Người bị tiểu đường týp 2 có nồng độ trung bình là 63 mcg/ml.

Ở nhóm thứ 3 - người không béo phì – có nồng độ trung bình là 31 mcg/ml, cao hơn so với những người gầy trong nhóm đầu tiên, cho thấy tiền sử gia đình bị bệnh có thể khiến họ tăng nguy cơ bị bệnh tiểu đường. Điều đó có nghĩa là có thể sử dụng RBP4 như một xét nghiệm sàng lọc đối với những người có nguy cơ cao để đánh giá xem người nào dễ bị bệnh tiểu đường hơn.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu thấy rằng nồng độ RBP4 cao có liên quan với chỉ số khối cơ thể cao hơn, tỷ số vòng mông/vòng bụng cao, nồng độ triglycerid cao hơn, nồng độ cholesterol HDL giảm và huyết áp tăng. Tất cả những yếu tố này là một phần của hội chứng chuyển hoá, và cho thấy tăng mạnh nguy cơ bị bệnh tim.

Nhóm nghiên cứu rất quan tâm xem liệu giảm nồng độ RBP4 có giúp ích cho người bị tiểu đường hay không. Vì RBP4 được sử dụng trong chuyển hoá vitamin A, nên không ức chế nó hoàn toàn nhưng bác sỹ sẽ chỉ cần giảm protein này về mức bình thường. Và các tác giả hy vọng rằng có thể sử dụng RBP4 để theo dõi quá trình ăn kiêng hoặc chương trình luyện tập ở bệnh nhân tiểu đường hay những người có nguy cơ bị bệnh.

Theo Hội Tiểu đường Mỹ thì nước này hiện có gần 21 triệu người bị bệnh tiểu đường. Khoảng 90-95% trong số đó bị tiểu đường týp 2, và tình trạng kháng insulin thường là một tiền triệu của bệnh. Do tế bào của cơ thể không sử dụng hợp lý insulin nên đường huyết tăng và tụy tiếp tục sản sinh ngày càng nhiều insulin để cố gắng làm giảm lượng đường huyết. Tuy nhiên, dần dần tụy không thể đáp ứng với yêu cầu này và bắt đầu mất đi khả năng sản sinh insulin, dẫn tới bệnh tiểu đường.

Q. Liên – Cimsi

(Theo Healthday)

 

Back.gif (1280 bytes)

Copyright © by VTTYH. 2001. All rights reserved. Please contact vttyh@hn.vnn.vn