|
Hạ
thấp nồng độ protein có hàm lượng cao hơn ở
những người kháng insulin có thể làm giảm nguy cơ
bị bệnh tiểu đường, hội chứng chuyển hoá và
bệnh tim mạch.
Phát
hiện này có thể giúp việc sàng lọc phát hiện
tình trạng kháng insulin, một xét nghiệm mới có
thể đánh giá tốt hơn hiệu quả của chế độ
ăn và chương trình luyện tập đối với việc làm
giảm nguy cơ bị tiểu đường, và những liệu pháp
mới nhằm làm giảm nồng độ phân tử protein có
tên retinol-binding protein 4 (RBP4). RBP4 thường được
cơ thể sử dụng để vận chuyển vitamin A trong máu.
Các
nhà khoa học của Trường Đại học Y khoa Harvard
cho biết, trong nghiên cứu này, họ đã phát hiện
mối liên quan giữa RBP4 với tình trạng kháng
insulin nhưng họ không thể chắc chắn liệu RBP4
chỉ đơn giản là một chỉ báo của tình trạng
kháng insulin hay nó thực sự gây ra tình trạng kháng
insulin.
Tuy
nhiên, nghiên cứu trước đó được tiến hành trên
động vật lại có vẻ cho thấy RBP4 có thể giữ
một
vai trò nào đó trong việc hình thành tình
trạng kháng insulin.
Vì
các nghiên cứu trên động vật cho thấy mối liên
quan chặt chẽ giữa RBP4 với tình trạng kháng
insulin nên các nhà nghiên cứu muốn biết liệu có
mối liên quan giữa protein này với tình trạng kháng
insulin ở người hay không.
Để
đánh giá mối liên quan ở người, các nhà nghiên
cứu đã xem mẫu máu lấy từ người dân ở 3 khu
vực khác nhau: California (Mỹ), Thụy Điển và Đức.
Họ đã chọn 3 nhóm người khác nhau – nhóm đông
nhất gồm 60 người.
Nhóm
thứ nhất gồm những người gầy, người béo phì
không bị tiểu đường và người béo phì bị
tiểu đường týp 2. Nhóm thứ 2 gồm những người
có chuyển hoá đường bình thường, giảm chuyển
hoá đường hoặc người bị tiểu đường týp 2.
Nhóm cuối cùng gồm những người không béo phì có
tiền sử gia đình bị bệnh tiểu đường týp 2.
Ở
nhóm đầu tiên, những người gầy có nồng độ
RBP4 thấp nhất, với nồng độ trung bình là 24
mcg/ml. Với người béo phì không bị tiểu đường,
nồng độ trung bình là 39 mcg/ml, trong khi người béo
phì bị tiểu đường có nồng độ trung bình là
41 mcg/ml.
Những
người trong nhóm thứ 2 có tình trạng kháng
insulin có nồng độ RBP4 cao hơn. Ở nhóm dung nạp
đường bình thường có nồng độ trung bình là
26 mcg/ml, trong khi những người bị suy giảm dung
nạp đường có nồng độ trung bình là 60 mcg/ml.
Người bị tiểu đường týp 2 có nồng độ trung
bình là 63 mcg/ml.
Ở
nhóm thứ 3 - người không béo phì – có nồng độ
trung bình là 31 mcg/ml, cao hơn so với những người
gầy trong nhóm đầu tiên, cho thấy tiền sử gia
đình bị bệnh có thể khiến họ tăng nguy cơ
bị bệnh tiểu đường. Điều đó có nghĩa là có
thể sử dụng RBP4 như một xét nghiệm sàng lọc
đối với những người có nguy cơ cao để đánh
giá xem người nào dễ bị bệnh tiểu đường hơn.
Ngoài
ra, các nhà nghiên cứu thấy rằng nồng độ RBP4
cao có liên quan với chỉ số khối cơ thể cao hơn,
tỷ số vòng mông/vòng bụng cao, nồng độ
triglycerid cao hơn, nồng độ cholesterol HDL giảm và
huyết áp tăng. Tất cả những yếu tố này là
một phần của hội chứng chuyển hoá, và cho
thấy tăng mạnh nguy cơ bị bệnh tim.
Nhóm
nghiên cứu rất quan tâm xem liệu giảm nồng độ
RBP4 có giúp ích cho người bị tiểu đường hay
không. Vì RBP4 được sử dụng trong chuyển hoá
vitamin A, nên không ức chế nó hoàn toàn nhưng bác
sỹ sẽ chỉ cần giảm protein này về mức bình
thường. Và các tác giả hy vọng rằng có thể
sử dụng RBP4 để theo dõi quá trình ăn kiêng
hoặc chương trình luyện tập ở bệnh nhân tiểu
đường hay những người có nguy cơ bị bệnh.
Theo
Hội Tiểu đường Mỹ thì nước này hiện có
gần 21 triệu người bị bệnh tiểu đường.
Khoảng 90-95% trong số đó bị tiểu đường týp
2, và tình trạng kháng insulin thường là một
tiền triệu của bệnh. Do tế bào của cơ thể không
sử dụng hợp lý insulin nên đường huyết tăng và
tụy tiếp tục sản sinh ngày càng nhiều insulin để
cố gắng làm giảm lượng đường huyết. Tuy nhiên,
dần dần tụy không thể đáp ứng với yêu cầu
này và bắt đầu mất đi khả năng sản sinh
insulin, dẫn tới bệnh tiểu đường.
Q.
Liên – Cimsi
(Theo
Healthday)
|