|
Cơ
quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ (FDA) đã
cho phép sử dụng Gardasil, vaccin đầu tiên được
triển khai để phòng ngừa ung thư cổ tử cung,
những tổn thương sinh dục tiền ung thư và mụn
cơm sinh dục do papillomavirus người (HPV) týp 6, 11,
16 và 18 gây ra. Vaccin được phép sử dụng cho
phụ nữ trong độ tuổi từ 9-26. Gardasil được
đánh giá và phê chuẩn trong 6 tháng theo qui trình
xem xét ưu tiên của FDA - một qui trình dành cho
những sản phẩm có khả năng mang lại những
lợi ích sức khoẻ có ý nghĩa.
HPV
là nhiễm trùng lây qua đường tình dục hay gặp
nhất ở Mỹ. Trung tâm Phòng chống Dịch bệnh
Mỹ (CDC) ước tính mỗi năm có khoảng 6,2 triệu
người Mỹ bị nhiễm HPV sinh dục và hơn một
nửa số nam giới và nữ giới có sinh hoạt tình
dục sẽ bị nhiễm virus này vào một thời điểm
nào đó trong đời. Trung bình, mỗi năm nước Mỹ
có khoảng 9.710 trường hợp mới được chẩn đoán
ung thư cổ tử cung và 3.700 ca tử vong do loại ung
thư này. Trên toàn thế giới, ung thư cổ tử cung
là loại ung thư hay gặp thứ hai ở phụ nữ, ước
tính mỗi năm có khoảng 470.000 ca mắc mới và
233.000 ca tử vong.
Đối
với phần lớn phụ nữ, hệ miễn dịch của cơ
thể sẽ tiêu diệt virus và phụ nữ bị nhiễm
virus không bị các bệnh liên quan. Tuy nhiên, một
số týp HPV có thể gây ra những tế bào bất thường
trên niêm mạc cổ tử cung mà sau đó nhiều năm có
thể phát triển thành ung thư. Các týp HPV khác có
thể gây ra mụn cơm sinh dục. Vaccin Gardisil có
hiệu quả chống lại HPV týp 16 và 18, gây ra
khoảng 70% số trường hợp ung thư cổ tử cung và
chống lại HPV týp 6 và 11, gây ra khoảng 90% số
trường hợp mụn cơm sinh dục.
Gardasil
là một vaccin tái tổ hợp (không chứa virus
sống) được tiêm 3 mũi trong thời gian 6 tháng.
Dự kiến việc chủng ngừa bằng Gardisil sẽ ngăn
ngừa phần lớn trường hợp ung thư cổ tử cung
do các týp HPV có trong vaccin. Tuy nhiên, phụ nữ
sẽ không được bảo vệ nếu họ đã nhiễm các
týp HPV đó trước khi tiêm phòng, điều đó cho
thấy tầm quan trọng của việc chủng ngừa trước
khi có phơi nhiễm với virus. Gardasil cũng không giúp
chống lại những týp HPV ít gặp hơn không có
trong vaccin, do đó sàng lọc thường qui và xét
nghiệm kính phết CTC thường xuyên vẫn đặc
biệt quan trọng trong việc phát hiện những thay
đổi tiền ung thư ở cổ tử cung để điều
trị trước khi ung thư cổ tử cung diễn ra.
4
nghiên cứu, 1 tại Mỹ và 3 ở nhiều quốc gia,
được tiến hành trên 21.000 phụ nữ để cho
thấy hiệu quả của Gardasil ở phụ nữ trong độ
tuổi từ 16-26 bằng cách cho họ tiêm vaccin hoặc
placebo. Kết quả cho thấy ở phụ nữ chưa bị
nhiễm virus, Gardasil có hiệu quả gần 100% trong
việc phòng ngừa tổn thương cổ tử cung tiền
ung thư, tổn thương âm đạo và âm hộ tiền ung
thư và mụn cơm sinh dục do nhiễm các týp
HPV mà vaccin nhắm tới. Tuy thời gian nghiên
cứu không đủ dài để ung thư cổ tử cung diễn
ra song việc ngăn chặn những tổn thương tiền
ung thư cổ tử cung này được cho là rất có
thể ngăn ngừa ung thư.
Các
nghiên cứu cũng đánh giá xem liệu vaccin có thể
bảo vệ phụ nữ đã nhiễm một số týp HPV có
trong vaccin khỏi bị các bệnh liên quan đến
những virus này hay không. Kết quả cho thấy vaccin
chỉ hiệu quả khi được tiêm trước khi nhiễm
virus.
2
nghiên cứu cũng được tiến hành để đánh giá
đáp ứng miễn dịch với vaccin ở các bé gái
trong độ tuổi từ 9-15. Đáp ứng miễn dịch
của các đối tượng này cũng tốt như ở phụ
nữ trong độ tuổi 16-26, điều đó cho thấy
vaccin sẽ có hiệu quả tương tự khi được dùng
cho các bé gái từ 9-15 tuổi.
Độ
an toàn của vaccin đã được đánh giá ở gần
11.000 người. Phần lớn các tác dụng phụ ở đối
tượng nghiên cứu được tiêm Gardasil là phản
ứng tại chỗ nhẹ hoặc trung bình, như đau hoặc
sưng ở vết tiêm.
Nhà
sản xuất vaccin đã đồng ý tiến hành một số
nghiên cứu sau khi được cấp phép, gồm những
nghiên cứu bổ sung để đánh giá sâu hơn độ an
toàn nói chung và hiệu quả lâu dài. Họ cũng sẽ
theo dõi kết quả thai nghén của phụ nữ tiêm
Gardasil trong khi mang thai mà không biết. Nhà sản
xuất cũng đang tiến hành nghiên cứu để đánh
giá độ an toàn và hiệu quả của Gardasil ở nam
giới. Vaccin Gardasil do hãng Merck & Co sản
xuất.
Quỳnh
Liên - Cimsi
(Theo
fda.gov)
|