Thuốc
lợi tiểu được chia thành thuốc lợi tiểu
thiazid, thuốc lợi tiểu quai Henlé, thuốc
lợi tiểu ống lượn xa hay lợi tiểu thải
kali, thuốc lợi tiểu thẩm thấu, chất ức
chế carbonic anhydrase. Trước khi công bố
thiazid đầu tiên (chlorothiazid) nǎm 1957, chất
ức chế cacbonic anhydrase và lợi tiểu thủy
ngân là những thuốc lợi tiểu được dùng
trên lâm sàng. Ngày nay, lợi tiểu thủy ngân
không còn được sử dụng nữa do độc tính
của thuốc và do đã có nhiều thuốc khác.
Không
lâu sau khi sulfanilamid được sử dụng nǎm
1939, nhiễm toan chuyển hóa đã được thừa
nhận là một tác dụng phụ. Sau đó người
ta xác định được rằng sulfanilamid ức
chế cacbonic anhydrase. Chất ức chế cacbonic
anhydrase và thuốc lợi tiểu thiazid đều có
tác dụng lợi tiểu, là dẫn chất sulfonamid.
Achetazolamid được sử dụng lần đầu vào nǎm
1953, hiện là chất ức chế cacbonic anhydrase
được sử dụng phổ biến nhất. Trong khi
thuốc gây lợi tiểu nhanh, thì tác dụng
của thuốc lại ngắn vì sự thích nghi nhanh
của cầu thận. Kết quả là chất ức chế
cacbonic anhydrase là thuốc lợi tiểu không
thực tế và được dùng nhiều ở nhãn khoa
vì tác dụng của thuốc lên nhãn áp.
Thuốc
lợi tiểu thiazid được tổng hợp trong một
nỗ lực nhằm tạo ra những chất ức chế
cacbonic anhdrase mạnh hơn. Trong khi thuốc lợi
tiểu thiazid không ức chế cacbonic anhydrase,
thì thuốc lại thay thế được cho lợi
tiểu thủy ngân do các thiazid ít độc hơn
nhiều. Mặc dù, lợi tiểu thiazid về mặt hóa
học tương tự sulfonamid, song thiazide không có
tác dụng kháng khuẩn. Sau khi chlorothiazid được
đưa ra thị trường nǎm 1957, có không dưới
7 thiazid đã được công bố trong những nǎm
tiếp theo. Hiện nay, hydrochlorothiazid là
thuốc lợi tiểu thiazid chiếm ưu thế được
sử dụng trên lâm sàng.
Trong
những nǎm 1980, việc sử dụng phổ biến
thiazid làm thuốc chống tǎng huyết áp đã
giảm đi phần nào, một phần là do đã có
nhiều thuốc chống tǎng huyết áp mới, và
do thiazide có thể gây tǎng lipid huyết thanh.
Người ta đã được xác định được rằng
thiazid ảnh hưởng tới lipd huyết thanh ở
mức độ vừa phải, và vì chi phí của
thuốc cực thấp, chúng đã khẳng định
lại vai trò là một thuốc quan trọng trong điều
trị tǎng huyết áp.
Hai
thuốc lợi tiểu ống lượn xa là
spironolacton và triamteren ra đời vào đầu
những nǎm 60, tiếp theo, vào cuối thập kỷ
60, là sự ra đời của hai thuốc lợi tiểu
vòng, furosemid và etharcynic acid. Amilorid, một
thuốc lợi tiểu ống lượn xa thải kali khác
được công bố nǎm 1981. Một số thuốc
lợi tiểu quai khác được công bố nǎm 1983
(bumetanid) và 1994 (torsemid). Cuối cùng, nhiều
thuốc lợi tiểu là dẫn chất của
sulfonamide/thiazid cũng được đưa ra thị trường:
chlorthalidon, metolazon và indapamid.
Lợi
tiểu thẩm thấu đã có từ nhiều thập
kỷ. Các dung dịch dextrose, glycerin, mannitol,
sucrose và urea ưu trương đều được dùng làm
thuốc lợi tiểu thẩm thấu. Hiện nay,
mannitol là thứ hay được chọn nhất khi
cần dùng thuốc lợi tiểu thẩm thấu toàn
thân. Glycerin chuyển hóa quá nhanh nên không
phải là thuốc lợi tiểu có hiệu quả.
Cơ
chế hoạt động: Trừ mannitol và các
thuốc thẩm thấu khác, tất cả các thuốc
lợi tiểu đều ảnh hưởng đến vận
chuyển chất điện giải ở biểu mô ống
sinh niệu. Thiazid ức chế hấp thu Na ở vỏ,
đặc biệt là phần nephron xa quai Henle.
Thiazid phát huy tác dụng của nó ở phía lòng
ống của màng nephron, do đó, đầu tiên chúng
phải được lọc qua màng để tới được
vị trí tác dụng. Metolazon, một thiazid hiệu
lực mạnh và tác dụng kéo dài, ngoài ống lượn
xa còn có thể tác dụng ở ống lượn gần.
Không như các thiazid khác, metolazone vẫn có
hiệu quả khi tốc độ lọc cầu thận (GFR)
kém và điều này có thể giải thích bởi
vị trí tác dụng gần của thuốc hoặc,
nhiều khả nǎng hơn là do hiệu lực vượt
trỗi của thuốc được chứng minh bởi khả
nǎng của metolazone thấm vào vị trí tác
dụng khi GFR bị suy giảm.
Chất
ức chế cacbonic anhydrase cản trở tác dụng
của cacbonic anhydrase không chỉ ở vỏ thận,
mà còn ở mắt, dẫn đến giảm tiết thuỷ
dịch; ở hệ thần kinh trung ương, để
kiểm soát cơn động kinh và làm giảm tốc
độ hình thành của dịch não tủy. ở
thận, các thuốc như acetazolamid làm tǎng đào
thải natri và bicacbonat, ở ống lượn xa,
kali bị thải nhằm bù lại lượng natri đã
lọc.
Tác
dụng của thuốc lợi tiểu quai có thể
diễn ra theo nhiều cơ chế hoạt động trong
đoạn tủy dày của nhánh lên. Các cơ chế này
bao gồm cản trở đồng vận chuyển ion
Na-Ka-2Cl tại mặt trong ống, (b) cản trở bơm
Na-K và (c) sự trao đổi ion âm. Trong khi
furosemid phát huy tác dụng ở cả 3 vị trí,
bumetanid và torsemid tác dụng đặc hiệu lên
hệ đồng vận chuyển Na-K-2Cl. Ethacrynic acid
cũng tác dụng tại vị trí đồng vận
chuyển Na-K-2Cl nhưng có thể theo một cơ
chế đặc biệt khác với 3 thuốc lợi tiểu
quai kia.
Những
phối hợp thuốc khác nhau có thể gây tác
dụng lợi tiểu mạnh. Có lẽ phối hợp
thuốc lợi tiểu nổi tiếng nhất là
metolazon với một thuốc lợi tiểu quai. Sử
dụng đồng thời metolazon với một thuốc
lợi tiểu quai gây mất nước và điện
giải mạnh do ức chế hai vị trí liên tiếp
trên nephron. Phối hợp thuốc này thường
được sử dụng khi đáp ứng với thuốc
lợi tiểu quai ít hơn mong đợi. Cũng có
thể đạt được đáp ứng tương tự khi
phối hợp các thiazid khác với lợi tiểu
quai nếu độ thanh thải creatinin không suy
giảm khiến cho thiazid không vào được vị
trí tác dụng. Khi lưu lượng huyết thanh qua
thận kém, một số bác sĩ sử dụng manitol,
một thuốc lợi tiểu thẩm thấu, phối hợp
với thuốc lợi tiểu quai nhằm tǎng lượng
thuốc lợi tiểu quai tới được vị trí tác
dụng.
Các
đặc điểm phân biệt: Hydroclorothiazid là
chất thường được sử dụng nhất trong nhóm
thiazid. Sinh khả dụng đườn uống của
thuốc tốt hơn nhiều so với chlorothiazid.
Nhiều thiazid khác cũng có trên thị trường
nhưng về cơ bản không khác với
hydroclorothiazid. Nói chung, thuốc lợi tiểu
thiazid không hiệu quả ở bệnh nhân có độ
thanh thải createnin dưới 30ml/phút.
Một
số thuốc thường được liệt vào nhóm
thiazid, mặc dù chúng có khác biệt đôi chút.
Chlorthalidon tác dụng kéo dài hơn nhiều so
với hydroclorothiazid, nhưng chlorthalidon cũng đắt
hơn nhiều. Metolazon, một thuốc dạng thiazid
khác, mạnh hơn nhiều so với hydrochlorothiazid
và vẫn có hiệu quả khi GFR dưới 30ml/phút.
Metolazid thường được sử dụng phối hợp
với thuốc lợi tiểu quai trong trường hợp
phù vẫn còn khi dùng các thuốc lợi tiểu khác.
Indapamid, một thuốc dạng thiazid, với tác
dụng chẹn kênh can xi, cũng hiệu quả ở
bệnh nhân có độ thanh thải creatinin dưới
30ml/phút.
Mặc
dù có một vài khác biệt, 4 thuốc lợi
tiểu quai là rất giống nhau. Ngoài những khác
biệt nhỏ ở vị trí tác dụng đặc hiệu,
furosemid, bumetanid, và torsemid về bản chất có
thể thay thế cho nhau, tuy nhiên, torsemid, do
thời gian tác dụng dài hơn, có thể dùng
liều một lần/ngày. Acid ethacrynic về cả hóa
học và dược học đều khác xa 3 thuốc
lợi tiểu quai kia và một số bác sĩ lâm sàng
cho rằng thuốc này có hiệu quả trong suy
thận cấp khi ba thuốc kia không có tác
dụng. Do có nhiều tác dụng phụ, acid
ethacrynic hiện không còn được sử dụng thường
xuyên.
Tác
dụng phụ: Ngoài mất cân bằng điện
giải, phần lớn thuốc lợi tiểu có khá ít
tác dụng phụ nếu được sử dụng đúng.
Mặc dù một số bác sĩ cho rằng hạ kali
huyết nhẹ biểu hiện tình trạng tổng lượng
mất đáng kể kali của cơ thể, một tổng
kết nhiều nghiên cứu đã cho thấy điều này
không có ý nghĩa đối với thuốc lợi tiểu
thiazid, chỉ có 5% tổng lượng kali cơ thể
bị mất. Tuy nhiên, tình trạng mất điện
giải có thể nghiêm trọng hơn khi dùng
thuốc lợi tiểu quai. Vị trí tái hấp thu Mg
chủ yếu là quai Henle. Vì các lợi tiểu
thiazid không tác dụng tại vị trí này, hạ
Mg huyết ít gặp khi dùng thuốc lợi tiểu
thiazid hơn thuốc lợi tiểu quai. Các phản
ứng quá mẫn có thể xảy ra nếu dùng
thiazid hoặc chất ức chế carbonic anhydrase
cho bệnh nhân mẫn cảm với sulfonamid. Đôi
khi furosemid được xem là có phản ứng chéo
với sulfonamid, tuy nhiên trên lâm sàng điều
này hầu như chưa bao giờ xẩy ra.
Thiazid
gây tǎng lipid máu nhưng mức độ nhẹ và
những thay đổi này có thể phục hồi vì
mức ban đầu sau một vài tháng sử dụng
thuốc, Trong một phân tích meta toàn diện, các
thuốc lợi tiểu gây tǎng cholesterol toàn
phần và LDL, đặc biệt là ở người da đên
và HDL giảm ở bệnh nhân đái đường.
Thuốc lợi tiểu cũng làm tǎng triglycerid
huyết thanh và cholesterol VLDL. Các thử
nghiệm dài ngày cho thấy rằng nồng độ
cholesterol huyết thanh chỉ tǎng trong 6 đến
12 tháng điều trị đầu tiên và sau đó
giảm xuống mức trước điều trị. Sử
dụng thuốc lợi tiểu thiazid gây ra viêm
tuỵ, nhưng tai biến này có thể là thứ phát
sau tǎng triglycerid huyết.
Người
ta nghi rằng thiazid làm tǎng glucose huyết
thanh, tuy nhiên các nghiên cứu lớn đã phủ
định điều này. Hơn nữa, sự thống nhất
của các thử nghiệm lâm sàng cho thấy điều
trị thiazid dài ngày không làm tǎng tỷ lệ
mắc bệnh đái đường. Người ta biết rõ là
béo phì và tǎng huyết áp có thể góp phần
gây ra tính kháng insulin.
Nhiễm
độc tai là một tác dụng phụ nổi tiếng
của acid ethacrynic, nhưng trong khi acid
ethacrynic có độc tính tai mạnh nhất trong 4
thuốc, thì furosemid cũng có thể độc cho
tai, đặc biệt nếu tiêm tĩnh mạch liều
lớn. Lợi tiểu quai, vì có tác dụng mạnh,
thường gây hạ Kali huyết quá nhanh, song
cần lưu ý rằng những thuốc lợi tiểu này
cũng có thể gây hạ Mg huyết, Na huyết và
Cl huyết. Những bệnh nhân hạ K huyết cũng
thường có hạ Mg huyết kèm theo. Nhiễm
kiềm chuyển hóa hạ Cl huyết là một phản
ứng phụ thường gặp khi dùng thuốc lợi
tiểu tích cực mà không bù đủ clorua kali.