Đơn
bào đã gây bệnh cho con người từ nhiều
thế kỷ và vẫn tiếp tục đến tận ngày
nay. Những đơn bào gây bệnh như Plasmodium
spp., Entamoeba histolytica, Trypanosoma spp. và
Leishmania spp. phân bố trên khắp thế giới.
Tại một số vùng ở châu Phi, châu á, Trung
và Nam Mỹ, những loại sinh vật này nằm
trong số những nguyên nhân hàng đầu gây
bệnh tật và tử vong.
Cuộc
tranh luận về thuốc chống đơn bào đã
kết thúc tốt đẹp nhờ việc phân loại các
tác nhân gây bệnh thành gây bệnh chủ yếu
ở đường tiêu hóa hoặc nhiễm ngoài đường
tiêu hóa /toàn thân. Những đơn bào chủ
yếu gây bệnh đường tiêu hóa ở người
gồm Entamoeba histolytica, Balantidium coli, Giardia
lambia, Cryptosporidium, Blastocystis hominis và
Dientamoeba fragilis, Isospora. Đơn bào gây bệnh
ngoài đường tiêu hóa gồm Pneumocytis carinii,
Toxoplasma gondii, Plasmodium spp., Babesia spp.,
Leishmania spp., Trypanosoma spp., Acanthamoeba spp.,
Naegleria spp., Sarcocystis spp. và Trichomonas
vaginalis.
Cùng
với tỉ lệ mắc Hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải (AIDS) đang gia tǎng, một số
bệnh đơn bào đã trở nên phổ biến hơn.
Bệnh do Cryptosporidium, Toxoplasma gondii, Isospora
spp. và Pneumocytis carinii đang tǎng mức độ
nặng. Các thuốc điều trị những bệnh này
gồm paromomycin, co-trimoxazole, pentamidin,
trimethoprim, dapson, atovaquon, clidamycin,
primaquin, trimetrexat và sulfadiazin.
Lịch
sử
Thuốc
chống sốt rét
Sốt
rét là một vấn đề của nhân loại ở
mọi thời đại. Thuật ngữ sốt rét
(malaria) xuất hiện từ sự liên tưởng
giữa không khí có hại vùng đầm lầy
(marsh) và bệnh ở người do nhiễm ký sinh trùng
sốt rét (malaria). Trong lịch sử, tài liệu
đầu tiên đề cập đến bệnh sốt rét có
niên đại từ nǎm 1700 trước Công nguyên ở
Trung Quốc. Các tác phẩm của Chaucer và
Shakespeare cũng như trong Iliad của Home có
nhắc đến bệnh sốt rét. Hippocrate cũng
nhận thấy có sự liên quan giữa hội chứng
sốt rét và vùng đầm lầy. Tại Canađa và
Hoa Kỳ, trong thế kỷ 18 và 19, sốt rét là
một bệnh dịch. Hơn 500.000 ca/nǎm được ghi
nhận ở đầu thế kỷ 20. Cũng trong thời
gian này, Cơ quan Phòng chống sốt rét được
thành lập và nay được mang tên Trung tâm Phòng
chống bệnh (CDC). Sốt rét là yếu tố đáng
kể trong nhiều cuộc chiến tranh lớn, thực
tế, trong cuộc chiến tranh Việt Nam, số ngày
binh sĩ mất khả nǎng chiến đấu do sốt rét
nhiều hơn do bị thương. Hiện nay, sốt rét
vẫn là vấn đề lớn ở các nước nhiệt
đới đang phát triển và đối với những du
khách tới vùng này.
Trong
số các thuốc chống sốt rét, dẫn xuất
quinolin vẫn là quan trọng nhất. Quinin là
thuốc đầu tiên được tìm ra. Quinin và các
alcaloid khác của cây cinchona (như quinidin và
cinchonin) được đề cập đến lần đầu tiên
vào nǎm 1633. Quinin là alcaloid chính trong vỏ
cây cinchona. Loại vỏ cây này có nhiều tên:
cinchona, vỏ cây của người Peru, vỏ cây
của thầy tu dòng Tên và vỏ cây của Hồng
y giáo chủ. Y vǎn lần đầu tiên đề cập
đến cinchona là vào nǎm 1643, và nǎm 1677,
cinchona được thừa nhận chính thức bằng
sự có mặt của nó trong Dược điển London
dưới tên "vỏ Peru". Mãi đến nǎm
1820 người ta mới tách chiết và xác định
được cấu trúc của quinin. Quinin hiện được
dùng để điều trị sốt rét. Quinidin - một
đồng phân quang học của quinin chủ yếu
được dùng làm thuốc chống loạn nhịp tim
nhưng cũng được dùng trong trường hợp
sốt rét nặng.
Quinacrin
được đưa vào điều trị sốt rét lần đầu
tiên nǎm 1930. Đó là kết quả một nghiên
cứu tích cực của người Đức nhằm tổng
hợp thuốc chống sốt rét. Quinacrin không
được tổng hợp tại Hoa Kỳ cho tới khi
nguồn cung cấp bị cắt đứt do cuộc xâm lược
của Nhật Bản ở vùng Tây Nam Thái Bình Dương
trong chiến tranh thế giới 2. Nǎm 1943,
quinacrin trở thành thuốc chính thức điều
trị sốt rét. Hiện nay, quinacrin được thay
thế bằng các thuốc khác ít độc hơn.
Chloroquin
và hydroxychloroquin được nghiên cứu lần đầu
tiên tại Hoa Kỳ trong chiến tranh thế giới
2, là kết quả của chương trình hợp tác
mở rộng nghiên cứu thuốc chống sốt rét
nhằm tìm ra thuốc có hiệu quả hơn và ít
độc hơn quinacrin. Nǎm 1943, chloroquin là
thuốc đầu tiên trong số hàng nghìn tổng
hợp và thử nghiệm hoạt tính chống sốt rét
và được thấy là thuốc có triển vọng
nhất. Sau chiến tranh, người ta phát hiện ra
rằng người Đức đã tổng hợp và nghiên
cứu thuốc này từ nǎm 1934. Cũng khoảng nǎm
1948, người ta thấy chloroquin cũng có hiệu
quả đIều trị bệnh amib ngoài đường tiêu
hóa.
Primaquin
cũng được triển khai trong chiến tranh thế
giới 2. Nó là 1 trong số 3 thuốc được
lựa chọn từ hàng trǎm dẫn xuất
8-aminoquinolin được thử nghiệm hoạt tính
chống sốt rét. Primaquin tỏ ra thành công
nhất và được Liên Hợp Quốc thử nghiệm
dùng cho quân đội Hàn Quốc.
Mefloquin
được triển khai trong chiến tranh Việt Nam
trong nghiên cứu tìm kiếm thuốc có hiệu
quả chống Plasmodium falciparum đa kháng
thuốc. Mefloquin được phát hiện vì cấu trúc
của nó tương tự quinin. Nhiều chất khác cũng
được thử nghiệm nhưng mefloquin đã vượt
qua các thử nghiệm lâm sàng.
Các
diaminopyrimidin, pyrimethamin và trimethoprim được
triển khai sau khi các nhà khoa học quan sát
thấy một vài diaminopyrimidin đối kháng
cạnh tranh với acid folic và acid folinic trong
Lactobacillus casei. Nghiên cứu kỹ hơn với các
sinh vật khác dẫn tới kết quả đIều trị
thành công sốt rét ở động vật thí
nghiệm. Pyrimethamin được triển khai đặc thù
như một thuốc chống sốt rét và có hiệu
quả cao. Mặt khác, trimethoprim được triển
khai như một thuốc kháng khuẩn và sau đó
được thấy có hoạt tính chống sốt rét.
Các
sulfonamid được sử dụng trên lâm sàng từ
giữa những nǎm 1930. Chúng là các thuốc đầu
tiên dùng điều trị và ngǎn ngừa nhiễm
khuẩn toàn thân ở người. Hoạt tính chống
sốt rét của chúng sớm được phát hiện
sau khi đưa vào sử dụng lâm sàng.
Các
sulfon đầu tiên được sử dụng trên lâm sàng
làm thuốc điều trị phong. Người ta chú ý
đến các sulfon vì cấu trúc hóa học của chúng
tương tự sulfonamid. Tất cả các sulfon đều
là dẫn xuất của dapson. Hiệu quả chống
sốt rét của các sulfon được chứng minh nǎm
1943 khi dapson tỏ ra có tác dụng điều trị
bệnh sốt rét do P.falciparum. Ngày nay, các
sulfon được dùng chủ yếu trong phối hợp
với quinin hoặc primethamin để điều trị
P.falciparum kháng chloroquin.
Các
tetracyclin (tetracyclin và doxycyclin) đã được
dùng phối hợp với quinin đIều trị sốt rét
cấp do P.falciparum. Hợp chất này được dùng
chủ yếu tại những vùng P.falciparum kháng
pyrimethamin, sulfonamid, chloroquin và đã giảm
nhạy cảm với quinin.
Thuốc
điều trị bệnh amip, giardia và trichomonas
Diloxanid
furoat được sử dụng trên lâm sàng lần đầu
tiên vào cuối những nǎm 1950 là kết quả
thử nghiệm tác dụng diệt amip của một
loạt các acetanilid thay thế. Các este furoat có
tác dụng nhất và hiện đang được dùng
trong điều trị nhiễm amip đường tiêu hóa
cấp tính.
Metronidazole
được triển khai là kết quả của nhiều
nghiên cứu về azomycin - một hợp chất
nitroimidazole. Dựa trên cấu trúc của
azomycin, metronidazole được tổng hợp và cho
thấy có tác dụng rõ rệt chống Trichomonas
vaginitis và E.histolytica. Nghiên cứu sâu hơn
đã chứng tỏ được phổ hoạt tính rộng
chống đơn bào và kháng khuẩn.
Dehdroemetin
lần đầu tiên được triển khai nǎm 1959 là
kết quả của những nỗ lực tổng hợp
emetin - một chất diệt amip hoạt động trong
mô được điều chế từ ipeca. Từ đầu
những nǎm 1960, dehydroemetin đã được sử
dụng trong điều trị bệnh amip tại những vùng
có dịch. Cả dehydroemetin và emetin đều được
dành để điều trị bệnh amip ngoài đường
tiêu hóa cho những bệnh nhân không đáp ứng
hoặc không dung nạp được metronidazole.
Paromomycin
là một aminoglycosid được phân lập từ
Streptomyces spp. Paromomycin được mô tả lần
đầu tiên nǎm 1959 và thuộc họ neomycin trong
nhóm aminoglycosid. Paromomycin hữu ích trong điều
trị nhiễm E.histolytica không triệu chứng và
có thể có hiệu quả trong ỉa chảy do
Cryptosporidium.
Lịch
sử của 8-hydroxyquinolin bắt nguồn từ việc
đưa chiniofon vào điều trị bệnh amip nǎm
1921. Cả iodoquinol và clioquinol đều có cấu
trúc tương tự chiniofon và có hiệu quả
diệt amip rõ rệt. Iodoquinol được dùng như
thuốc diệt amip đường uống, trong khi
clioquinol được dùng làm thuốc bôi tại
chỗ để kháng khuẩn và kháng nấm.
Thuốc
chống Trypanosomatidae
Trypanosomatidae
là nguyên nhân bệnh ngủ châu Phi (Trypanosoma
brucei rhodesiense hay T.b. gambiense) và bệnh
trypanosoma hay bệnh Chaga (Trypanosoma cruzi) ở
châu Mỹ. Thuốc được dùng điều trị
những bệnh này là eflonithin, melarsoprol,
suramin và nifurtimox. 3 thuốc đầu được dùng
điều trị nhiễm T.brucei trong khi nifurtimox
được dùng điều trị T.cruzi.
Eflonithin
là thuốc mới nhất chống trypanosoma, được
cấp phép sử dụng nǎm 1990. Thuốc rất có
hiệu quả trong cả 2 giai đoạn bạch huyết
và thần kinh trung ương của bệnh ngủ châu
Phi do T.b.gambiense. Eflonithin có hiệu quả thay
đổi trong nhiễm T.b.rhodesiense và được phép
bán trên thị trường.
Melarsoprol
được dùng trên lâm sàng nǎm 1949 để điều
trị bệnh ngủ châu Phi. Việc triển khai
thuốc xuất phát từ nhu cầu về thuốc ít
độc tính thay thế cho trypasamid - một hợp
chất chứa arsen là thuốc chính điều trị
bệnh ngủ Gambia có tác động đến hệ
thần kinh trung ương. Về cấu trúc, melasoprol
là sự kết hợp hóa học oxid melarsen và
dimercaprol (BAL). Tại Mỹ, melasoprol chỉ được
bán thông qua CDC.
Suramin
được triển khai tại Đức sau khi thấy
rằng các thuốc nhuộm trypan đỏ, trypan xanh
và afridol tím có hoạt tính diệt Trypanosoma.
Sau vài nǎm nghiên cứu, suramin được đưa vào
dùng trên lâm sàng nǎm 1920. Suramin chỉ được
bán thông qua CDC.
Việc
triển khai nifurtimox xuất phát từ quan sát
thấy nitrofuran có hiệu quả trong nhiễm
Trypanosoma cruzi thực nghiệm. Nhiều dẫn
xuất của nitrofuran được kiểm tra tác
dụng hóa trị liệu. Đến cuối những nǎm
1970, nifurtimox được chứng minh có hiệu
quả lâm sàng nhất trong bệnh Chaga cấp tính.
Nifurtimox chỉ được bán thông qua CDC.
Stibogluconat
natri và meglumin antimonat là những hợp chất
hóa trị 5 chống Leishmania. Cả 2 thuốc đều
được triển khai từ một nghiên cứu tìm
những thuốc ít độc hơn thay thế cho kali
tartrat antimon (chất gây nôn tartar).
Stibogluconat natri được bán qua CDC, còn
meglumin antimonat chỉ được lưu hành ở
những nước nói tiếng Pháp.
Những
thuốc khác chống nhiễm đơn bào trong bệnh
AIDS
Pentamidin
được phép bán trên thị trường một thời
gian dài trước khi phát hiện ra bệnh AIDS.
Việc triển khai pentamidin bắt nguồn từ nghiên
cứu về synthalin - một chất hạ đường
huyết mạnh có hoạt tính diệt Trypanosoma rõ
rệt. Từ nghiên cứu này, nhiều chất hóa
học cùng họ được tổng hợp và nghiên
cứu hoạt tính chống đơn bào. Trong số đó,
các amidin được chứng minh là có hoạt tính
cao nhất. Khi đã xác định được các yêu
cầu cấu trúc - hoạt tính, người ta tổng
hợp được pentamidin và các diamidin khác.
Pentamidin hiện là chất duy nhất được sử
dụng ở Mỹ.
Trimetrexat
ban đầu được triển khai làm thuốc ức
chế tủy. Nghiên cứu kỹ hơn về trimetrexat
đã chứng minh được hiệu quả của nó
trong điều trị nhiễm Pneumocytis carinii và
Toxoplasma gondii. Hiện trimetrexat cùng với
leucovorin được dùng làm thuốc thay thế để
điều trị viêm phổi do P. carinii ở những
bệnh nhân bị suy yếu miễn dịch.
Atovaquon
là một dẫn xuất của hydroxynaphthoquinon được
triển khai nhằm khắc phục nhược điểm
hấp thu kém và chuyển hóa nhanh thường
thấy ở những hợp chất thuộc nhóm này.
Hydroxynaphthoquinon ban đầu được sử dụng
để điều trị sốt rét, tuy nhiên, vai trò
của atovaquon trong nhiễm sốt rét vẫn chưa
được xác định. Hiện nay atovaquon được dùng
điều trị viêm phổi do P. carinii ở những
bệnh nhân không dung nạp được cotrimoxazole.
Clindamycin
là dẫn xuất hóa học của lincomycin - một
kháng sinh được chiết xuất lần đầu tiên
nǎm 1962 từ Streptomyces lincolnensis tìm thấy
trong đất gần vùng Lincoln, Nebraska.
Clindamycin có hiệu lực cao hơn, tǎng hấp thu
qua đường tiêu hóa và ít tác dụng phụ hơn
so với lincomycin. Là một thuốc chống đơn bào,
clindamycin được phối hợp với nhiều chất
khác dùng làm thuốc thay thế trong điều
trị nhiễm P.falciparum, Toxoplasma gondii hay P.
carinii.
Cơ
chế tác dụng: Các thuốc khác nhau được
dùng trong điều trị nhiễm đơn bào có cơ
chế tác dụng khác nhau. Các cơ chế này bao
gồm ức chế tổng hợp acid folic, thay đổi
pH trong các nang thiết yếu của đơn bào,
ức chế vận chuyển điện tử của ty lạp
thể, ức chế tổng hợp protein, ức chế
tổng hợp hoặc chức nǎng của ARN và/hoặc
ADN.
Những
thuốc ức chế tổng hợp acid folic gồm
pyrimethamin, trimethoprim, sulfonamid, dapson và
trimetrexat. Pyrimethamin, trimethoprim và
trimetrexat phát huy tác dụng bằng cách ức
chế enzym dihydrofolat reductase. Còn sulfonamid và
dapson ức chế dihydropteroat synthetase - loại
enzym đứng ngay trước dihydrofolat reductase
trong quá trình tổng hợp acid folic. Phối
hợp pyrimethamin hoặc trimethoprim với
sulfonamid có thể tạo ra tác dụng hiệp đồng.
Trimetrexat
là chất đối kháng folat mới. Không giống các
chất kháng folat chống đơn bào cổ điển như
pyrimethamin và trimethoprim, các chất kháng
folat mới không cần vận chuyển tích cực vào
tế bào. Trimetrexat có ái tính lipid cao và
được hấp thu thụ động và tập trung trong
tế bào của đơn bào. Các sinh vật như
Pneumocytis carinii và Toxoplasma gondii dễ dàng
hấp thu trimetrexat.
Erythromycin,
paromomycin và tetracyclin cản trở quá trình
tổng hợp protein bằng cách gắn vào tiểu phân
ribisom, gây ức chế tổng hợp protein phụ
thuộc ARN. Metronidazole lại tương tác với
ADN làm mất cấu trúc xoắn và bẻ gẫy sợi
của ADN, dẫn đến ức chế tổng hợp
protein.
Chloroquin,
hydroxychloroquin, quinin và mefloquin được vận
chuyển vào những nang acid trong plasmodium và làm
tǎng pH. pH tǎng cản trở vận chuyển phân
tử và hoạt tính phospholipase. Plasmodium trong
hồng cầu đặc biệt nhạy cảm với các
thuốc này vì plasmodium tập trung chọn lọc các
thuốc này. Các thuốc này có hoạt tính
chống thể vô tính trong hồng cầu của hầu
hết chủng P.falciparum, P.malariae, P.ovale hay
P.vivax, nhưng không có tác dụng đến thể
ngoài hồng cầu. Chloroquin có tác dụng chữa
khỏi sốt rét do P.falciparum nhạy cảm với
chloroquin, tuy nhiên, cả chloroquin và quinin
chỉ có hiệu quả ức chế sốt rét do
P.vivax. Chưa rõ cơ chế diệt amip của
chloroquin.
Quinacrin,
primaquin, pentamidin và furazolidon đều cản
trở tổng hợp hoặc chức nǎng của ARN và/hoặc
ADN của đơn bào. Chưa xác định đươc cơ
chế hoạt động chính xác của những thuốc
này nhưng hình như chúng có những kiểu
hoạt động khác nhau. Các cơ chế được đề
xuất là quinacrin gắn với acid nucleic hoặc
ức chế tiêu hóa hồng cầu ở plasmodium;
pentamidin ức chế quá trình oxi phosphoryl hóa
và/hoặc cản trở sự hợp nhất các
nucleotid và acid nucleic thành ARN và ADN;
primaquin phá vỡ chức nǎng của ty lạp thể
và gắn với ADN tự nhiên. Furazolidon phá
hủy ADN của đơn bào do đó ức chế tổng
hợp protein.
Eflornithin
khác các thuốc chống đơn bào khác cả về
cấu trúc và chức nǎng. Bằng cách ức chế
enzym ornithin decarboxylase, thuốc phá vỡ sự
phát triển, biệt hóa và sao chép của
trypanosoma. Thuốc có hiệu quả cao trong điều
trị nhiễm T.brucei gambiense.
Melarsoprol,
giống các hợp chất arsen khác, tương tác
với những nhóm sulfhydryl có trong cả tế bào
đơn bào và động vật có vú. Nhờ phản
ứng mạnh và thuận nghịch với các nhóm
sulfhydryl, melarsoprol ức chế nhiều enzym khác
nhau. Đặc biệt, melarsoprol tác động trên
pyruvat kinase của đơn bào khác với trên
enzym của động vật có vú.
Các
thuốc chống sốt rét khác nhau tác động đến
những giai đoạn khác nhau trong vòng đời
của đơn bào. Thuốc chống sốt rét quinolin
chỉ tác dụng lên giai đoạn hồng cầu của
quá trình phát triển ký sinh trùng. Thuốc không
có tác dụng trên giai đoạn trong gan (các
thể liệt sinh trong mô). Chất ức chế
dihydrofolat reductase ức chế sự phát triển
tiền hồng cầu trong gan (dự phòng nguyên nhân)
và sự phát triển trong muỗi (tác dụng bào
tử). Primaquin và tetracyclin, không như các
thuốc chống sốt rét khác, là những thuốc
diệt bào tử trong mô, tuy nhiên, tetracyclin phát
huy tác dụng diệt bào tử chậm. Primaquin cũng
có hoạt tính chống thể tiền hồng cầu và
ngoại hồng cầu, nhưng không có tác dụng
với thể hồng cầu vô tính của Plasmodium
spp.
Atovaquon,
không như các thuốc khác hiện đang được dùng
điều trị PCP, không tác dụng bằng cách đối
kháng folat. Hoạt tính chống đơn bào của
atovaquon có thể do khả nǎng ức chế chọn
lọc vận chuyển điện tử ở ty lạp thể.
Atovaquon có thể trực tiếp diệt Pneumocitis
khác với nhiều thuốc chỉ ức chế sự phát
triển của chúng. Atovaquon có hoạt tính
chống các đơn bào khác gồm các loài
Plasmodium và Toxoplasma gondii.
Vẫn
chưa rõ tác dụng diệt amip của một
8-hydroxyquinolin là iodoquinol. Người ta cho
rằng các 8-hydroxyquinolin bất hoạt hệ
thống enzym thiết yếu hay các protein halogenat
nhưng chưa có bằng chứng thực nghiệm.
Những
nghiên cứu về cơ chế của stibogluconat natri
(Pentostam (R)) chưa làm sáng tỏ liệu tác
dụng chống đơn bào là do thuốc hay do sự có
mặt của chất bảo quản trong sản phẩm
cuối cùng. Pentostam (R) chứa chất bảo quản
m-chlorocresol ức chế các thể Leishmania có
trong nuôi cấy và ở vật chủ trung gian là
ruồi cát.
Nghiên
cứu trước đây cho thấy natri stibogluconat
cản trở cả quá trình phân ly gluco và oxi hóa
acid béo trong glycosom của đơn bào, dẫn đến
giảm sản sinh ATP và GTP.
Đặc
điểm phân loại: 6 thuốc chống đơn bào
hiện chỉ được bán qua CDC gồm suramin,
melarsoprol, diloxanid furoat, dehydroemetin,
nifurtimox và stibogluconat natri (natri antimon
gluconat).
Trong
nhiễm T.b. gambiense hay T.b. rhodesiense, suramin là
thuốc lý tưởng để điều trị giai đoạn
bạch huyết, trong khi melarsoprol là thuốc lý
tưởng điều trị bệnh giai đoạn muộn
ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương.
Suramin cũng có giá trị dự phòng bệnh
trypanosoma Rhodesia và Gambia vì thuốc có thời
gian bán thải cực dài (xấp xỉ 50 ngày).
Eflornithin đang trở thành thuốc được ưa
chuộng trong giai đoạn cuối trên hệ thần
kinh trung ương của nhiễm T.b. gambiense vì ít
độc hơn melarsoprol.
Stibogluconat
natri hay meglumin antimon là thuốc lý tưởng điều
trị bệnh do Leishmania. Meglumin antimon là
thuốc hay được dùng điều trị bệnh
leishmania ở các nước nói tiếng Pháp, trong
khi stibogluconat natri được dùng ở Mỹ và các
nước khác.
Metronidazole,
quinacrin và furazolidon đều có hoạt tính
giống disulfiram, được chỉ định điều
trị Giardia lamblia. Không dùng 3 thuốc này cùng
với rượu. Furazolidon cũng là chất ức chế
monoamin oxidase và là thuốc chống Giardia duy
nhất có dạng dịch treo.
Metronidazole
được chỉ định trong nhiều bệnh đơn bào.
Đây là thuốc lý tưởng điều trị viêm
tiểu-đại tràng xâm nhập do E. histolytica, viêm
ruột do Giardia lamblia và viêm âm đạo do
Tichomonas vaginalis. Thuốc cũng có hiệu quả rõ
rệt trong những bệnh do vi khuẩn kị khí.
Chống chỉ định dùng metronidazole cho phụ
nữ có thai 3 tháng đầu.
Trong
số các kháng sinh diệt amip đường tiêu hóa,
paromomycin là thuốc duy nhất diệt amip trực
tiếp. Các kháng sinh diệt amip đường tiêu hóa
khác làm thay đổi vi khuẩn chí đường
ruột cần cho sự nhân lên của amip gây
bệnh. Paromomycin cũng được dùng làm thuốc
thay thế điều trị nhiễm Giardia cho phụ
nữ có thai vì thuốc được hấp thu ít
nhất qua đường tiêu hóa.
Phối
hợp trimethoprim - sulfamethoxazole là thuốc lý
tưởng điều trị hoặc dự phòng nhiễm
P.carinii. Dapson có hiệu quả ở cả dạng
đơn hoặc phối hợp với trimethoprim hoặc
pyrimethamin trong dự phòng viêm phổi do
P.carinii ở bệnh nhân AIDS. Tuy nhiên,
pentamidin khí dung ít tác dụng dự phòng hơn
liệu pháp toàn thân với co-trimoxazole hoặc
dapson ở những bệnh nhân có tế bào CD4+
<100. Dapson phối hợp với pyrimethamin cũng
có thể ngǎn không cho giai đoạn 1 của bệnh
toxoplasma xảy ra ở bệnh nhân AIDS.
Pyrimethamin - sulfadiazin là liệu pháp lý tưởng
điều trị nhiễm Toxoplasma gondii ở bệnh nhân
AIDS.
Quinin
và quinidin có tác dụng ngang nhau trong điều
trị sốt rét, nhưng quinidin gluconat là thuốc
lý tưởng điều trị sốt rét do P.falciparum
kháng chloroquin cần liệu pháp ngoài đường
tiêu hóa.
Chloroquin
là thuốc được chọn để dự phòng và điều
trị sốt rét cho phụ nữ có thai. Thuốc cũng
có tác dụng điều trị bệnh amip ngoài đường
tiêu hóa, cả dùng riêng rẽ hoặc bổ sung
cho thuốc khác. Vì thuốc được hấp thu
gần như hoàn toàn nên chloroquin không có tác
dụng điều trị bệnh amip đường ruột.
Hydroxychloroquin
có chung tất cả các hoạt tính như chloroquin
nhưng có tỉ lệ nhiễm độc tính cho mắt
thấp hơn. Hydroxychloroquin được dùng chủ
yếu làm thuốc chống viêm trong khi chloroquin
được dùng làm thuốc chống đơn bào.
Các
chất diaminopyrimidin chủ yếu được dùng
phối hợp với sulfonamid. Pyrimethamin
isulfadoxin (Fansidar (R)) hiện là thuốc lý tưởng
dự phòng sốt rét cho du khách tới những vùng
lưu hành dịch P.falciparum kháng chloroquin. Đã
có báo cáo về Fansidar (R) gây hội chứng
Stevens-Johnsons.
Iodoquinol
hiện chủ yếu được dùng để tiệt trừ
nang trong nhiễm E.histolytica không triệu
chứng hoặc sau khi dùng metronidazole ở bệnh
nhân bị bệnh xâm lấn trong hoặc ngoài đường
tiêu hóa. Iodoquinol gây teo thị và mù vĩnh
viễn ở trẻ em dùng liều cao. Thuốc có
thể ảnh hưởng đến xét nghiệm chức nǎng
tuyến giáp và chống chỉ định cho bệnh nhân
không dung nạp được iod.
Một
số bệnh đơn bào hiếm gặp có thể điều
trị bằng các thuốc hiện đang được sử
dụng trên lâm sàng: nhiễm Naegleria spp dùng
amphotericin B, miconazole, rifampin; Balantidium coli
dùng tetracyclin, metronidazole, iodoquinol; Babesia
spp dùng clindamycin + quinin.
Các
phản ứng có hại: So với các thuốc
chống sốt rét khác, quinin có tỉ số trị
liệu/ độc tính kém nhất. Tác dụng phụ
của quinin (ù tai, giảm thính lực, đau đầu,
bồn chồn, buồn nôn/nôn và rối loạn thị
lực nhẹ) liên quan đến liều dùng và có
thể hồi phục. Quinin cũng có hoạt tính
chống tǎng trương lực cơ và tác dụng
giống cura có thể gây ức chế hô hấp ở
bệnh nhân bị bệnh nhược cơ. Quinin có tác
dụng trên tim mạch tương tự quinidin, nhưng
liều uống bình thường ít gây tác dụng cho
bệnh nhân không bị rối loạn chức nǎng
tim. Quinin có thể làm khoảng Q-T kéo dài.
Dehydroemetin
có thể thúc đẩy suy tim ở bệnh nhân có
nguy cơ suy tim và có thể gây hụt dẫn
truyền và loạn nhịp tim ở bệnh nhân nhạy
cảm. Dehydroemetin có thể kéo dài đoạn QT,
PR, QRS và ST (có thể phải ngừng thuốc).
Dehydroemetin, giống như emetin, gây viêm đa dây
thần kinh với liệt tạm thời có thể kéo dài
tới 2 tháng.
Furazolidon
có thể gây tan máu ỏ người thiếu G6PD và
gây phản ứng giống disulfiram, tụt huyết áp
tư thế đứng, hạ đường huyết hoặc cơn
cao huyết áp. Cơn cao huyết áp dễ xảy ra
nếu ǎn những thực phẩm giàu amin trong
hoặc một thời gian ngắn sau khi dùng thuốc
vì furazolidon cũng là chất ức chế MAO.
Dùng
suramin dự phòng bệnh trypanosoma gây buồn nôn/nôn
và giảm ý thức đi kèm với co giật. Trị
liệu suramin có thể gây phản ứng mắt gồm
viêm mi mắt, viêm kết mạc, sợ ánh sáng và
chảy nước mắt. Chống chỉ định dùng
suramin ở người bị bệnh thận và bệnh
gan.
Melarsoprol
gây độc đáng kể cho trên 25% số bệnh nhân
dùng thuốc. Bệnh não phản ứng xảy ra do tương
tác giữa melarsoprol, não bị bệnh và
trypanosoma. Ngoài ra, hiếm hơn, có thể gặp
xuất huyết não gây tử vong khi dùng
melarsoprol. Do những độc tính này, thuốc
chỉ được khuyên dùng sau khi điều trị
suramin và chỉ trong trường hợp đơn bào có
liên quan đến hệ thần kinh trung ương.
Clindamycin
cũng giống như các kháng sinh phổ rộng khác,
có thể gây viêm đại tràng giả mạc.
Clindamycin là kháng sinh đầu tiên có liên
quan đến bệnh này và hiện nay là thuốc mà
hầu hết các bác sĩ cho rằng gây ra tác
dụng phụ nguy hiểm này.
Primaquin,
quinin, furazolidin, nifurtimox và pyrimethamin có
khả nǎng gây tan máu ở bệnh nhân thiếu
G6PD. Những bệnh nhân là nam giới Trung Đông,
Trung Quốc và châu Phi nên xét nghiệm phát
hiện thiếu G6PD trước khi dùng thuốc.
Tetracyclin
có thể gây nhiễm Candida và nhạy cảm ánh sáng.
Không dùng thuốc khi có thai hoặc cho trẻ em
dưới 8 tuổi. Doxycyclin là thuốc được
khuyến nghị dùng thay thế cho sulfadoxin -
pyrimethamin để dự phòng ngắn ngày
P.falciparum đa kháng thuốc.