Hiện
nay, đã có nhiều thuốc điều trị bệnh gút
cấp hoặc mạn tính, bao gồm colchicin, các
thuốc chống viêm phi steroid (NSAID),
sulfinpyrazon, allopurinol, probebecid, corticotropin
(ACTH) và các glucocorticoid. Điều trị bệnh gút
bao gồm 3 khía cạnh khác nhau của bệnh: ức
chế phản ứng viêm (colchicin, glucocorticoid,
ACTH và NSAID), giảm sản sinh acid uric
(allopurinol), và tǎng thanh thải acid uric
(phenylbutazon, probenecid, sulfinpyrazon). Các
thuốc lý tưởng để điều trị cơn gút
cấp là colchicin và NSAID. Các glucocorticoid và
ACTH được dành để điều trị cơn cấp ở
những người kháng điều trị hoặc chống
chỉ định dùng colchicin và các NSAID. Bệnh gút
mạn tính thường được điều trị bằng các
thuốc thải acid uric niệu, allopurinol hoặc
liều thấp colchicin dùng hằng ngày.
Lịch
sử: Colchicin đã được dùng từ lâu
trong điều trị viêm khớp gút cấp. Nǎm
1763, chế phẩm Colchicum autummale, loại cây
chứa alkaloid colchicin, lần đầu tiên được
sử dụng trong điều trị cơn gút cấp. Mãi
đến nǎm 1820, người ta mới chiết xuất
được colchicin từ cây này. Ngày nay,
colchicin vẫn được dùng phổ biến trong điều
trị bệnh gút cấp.
Trong
suốt thời gian mà nguồn cung cấp penicillin
bị hạn chế, có nhu cầu về các thuốc
giảm bài tiết penicillin qua thận. Probenecid
đã được triển khai nhờ kết quả của
một nghiên cứu có tổ chức. Đây là 1 trong
2 thuốc (thuốc kia là carinamid) làm giảm
thanh thải penicillin qua thận. Trong lâm sàng,
probenecid có hoạt tính bài tiết acid uric
niệu và là thuốc điều trị gút có hiệu
quả.
Sulfinpyrazon
được phát hiện khoảng nǎm 1960, trong khi tìm
kiếm một thuốc bài tiết acid uric niệu và
chống viêm ít độc nhất. Là chất chuyển hóa
của phenylbutazon, sulfinpyrazon có hiệu quả rõ
rệt trong việc bài tiết acid uric niệu và do
đó là thuốc có hiệu quả trong điều trị
bệnh gút mạn tính.
Lịch
sử của các thuốc chống viêm phi steroid
bắt đầu vào giữa thế kỷ XVIII khi người
ta sử dụng vỏ cây liễu điều trị sốt. Nǎm
1829, người ta chiết xuất được hoạt
chất của vỏ cây liễu. Salicylat natri được
sử dụng lần đầu tiên nǎm 1875 và aspirin
được đưa vào điều trị chứng viêm nǎm
1899. Các thuốc chống viêm phi steroid, không
phải salicylat ban đầu bao gồm indomethacin,
hiện nay vẫn được dùng, và phenylbutazon,
một hợp chất ít được dùng vì nguy cơ
thiếu máu bất sản và mất bạch cầu hạt.
Vào giữa những nǎm 1970, ibuprofen và các
dẫn xuất acid propionic không độc cùng họ
khác được tung ra thị trường. Có không dưới
17 thuốc riêng biệt về mặt hóa học trong
nhóm này. Nếu dùng đúng, các thuốc NSAID khá
ít độc khi điều trị ngắn ngày, mặc dù các
tác dụng phụ trên đường tiêu hóa (GI) khá
nổi tiếng và là một trong những phản ứng
thuốc có hại hay gặp nhất khi dùng kéo dài.
Để điều trị cơn gút cấp, các NSAID hay dùng
nhất là indomethacin, phenylbutazon và sulindac,
tuy nhiên, nhiều thuốc NSAID khác cũng có
hiệu quả trong cơn gút cấp. Các thuốc khác
có hiệu quả bao gồm diclofenac, ketoprofen,
fenoprofen, ibuprofen, piroxicam, tolmetin, naproxen,
acid meclofenamic và flurbiprofen.
Vào
cuối những nǎm 1970, mới đầu allopurinol
được nghiên cứu như một thuốc chống ung
thư. Nó tỏ ra thiếu hoạt tính chống
chuyển hóa nhưng lại có hoạt tính chống gút
rõ rệt. Nghiên cứu sâu hơn đã chứng minh
allopurinol là một thuốc có hiệu quả trong
điều trị bệnh gút.
Các
corticosteroid và ACTH được xem là những
thuốc có hiệu quả điều trị cơn gút cấp
vì hoạt tính chống viêm của thuốc. Do có
một số tác dụng phụ, các thuốc này được
dành để điều trị cơn gút cấp kháng
thuốc.
Cơ
chế tác dụng: Các thuốc điều trị gút
khác nhau tác dụng thông qua một số cơ chế
khác nhau. Probenecid và sulfinpyrazon làm tǎng bài
tiết acid uric niệu, trong khi, allopurinol cản
trở sự hình thành acid uric. Probenecid và
sulfinpyrazon không tác dụng trên sự hình thành
acid uric. Colchicin, NSAID, corticotropin, và các
corticosteroid ức chế chứng viêm phản ứng
với lắng đọng tinh thể urat, do đó, giảm
các triệu chứng (thí dụ: viêm khớp gút) do
bệnh gút.
Hoạt
động của các thuốc chống viêm dùng điều
trị gút khác nhau rõ rệt. Colchicin tác động
bằng cách gắn với các protein vi tiểu quản
và cản trở chức nǎng thoi gián phân dẫn đến
giảm di cư bạch cầu, hóa ứng, bám dính và
thực bào. Indomethacin và phenylbutazon có hiệu
quả như colchicin trong việc giảm các triệu
chứng viêm của gút. Không như indomethacin,
phenylbutazon cũng có hoạt tính bài tiết acid
uric niệu. Sulfinpyrazon, không giống
phenylbutazon, không có đặc tính chống viêm
hoặc giảm đau. Thuốc có hoạt tính thải
acid uric niệu mạnh gấp 3-6 lần probenecid.
Sulfinpyrazon cũng kéo dài đời sống tiểu
cầu, có lợi trong phòng ngừa nhồi máu cơ
tim và huyết khối.
Các
liều dược lý của corticosteroid và ACTH làm
giảm viêm do ức chế giải phóng các acid
hydrolase bạch cầu, ngǎn ngừa sự tích tụ
đại thực bào tại vị trí viêm, cản trở
sự bám dính của bạch cầu vào thành mao
mạch, giảm tính thấm màng mao mạch (nhờ đó
làm giảm phù nề), giảm các thành phần bổ
sung, ức chế giải phóng histamin và kinin, và
cản trở sự hình thành mô sẹo.
Các
đặc điểm phân biệt: Các thuốc điều
trị bệnh gút khác nhau về cơ chế tác
dụng và các tác dụng phụ. Colchicin, loại
thuốc lâu đời nhất trong nhóm thuốc này,
được dùng để làm giảm các triệu chứng
của cơn gút cấp và bệnh gút mạn tính nhưng
có tác dụng giảm mức acid uric. Ngoài những
lợi ích đối với bệnh gút, colchicin có
hiệu quả trong một số chỉ định chưa chính
thức như xơ gan, thoái hóa dạng tinh bột,
bệnh Paget, viêm da dạng herpes, sốt Địa
Trung Hải gia đình.
Sulfinpyrazon
là thuốc được ưa chuộng dành cho những
bệnh nhân bị bệnh gút thứ phát sau liệu
pháp lợi tiểu điều trị tǎng huyết áp và
những người có nguy cơ bị bệnh mạch vành.
Các
phản ứng có hại: Tác dụng độc của
colchicin liên quan tới hoạt tính chống gián
phân trong các mô đang tǎng sinh như da, tóc và
tủy xương. Điều trị ngắn ngày thuốc có
thể gây buồn nôn/nôn và viêm dạ dày ruột
xuất huyết. Điều trị lâu dài thuốc có
thể gây mất bạch cầu hạt, thiếu máu
bất sản và rụng tóc.
Tác
dụng phụ hay gặp nhất của allopurinol là
phản ứng da. ở một số trường hợp, phát
ban xuất hiện tới 2 nǎm sau khi bắt đầu điều
trị. Ngoài ra, việc dùng allopurinol có thể gây
hội chứng ngộ độc nguy hiểm đến tính
mạng.
Tất
cả các thuốc NSAID đều gây các tác dụng
phụ tương tự nhau, nhưng có một vài ngoại
lệ. Những tác dụng phụ hay gặp nhất là
ở dạ dày ruột, bao gồm buồn nôn, chán ǎn,
đau bụng và loét. Indomethacin và phenylbutazon
có những tác dụng phụ khác hạn chế việc
dùng thuốc kéo dài. 30-55% số bệnh nhân dùng
indomethacin bị tác dụng phụ. Hay gặp nhất
là các tác dụng phụ ở dạ dày ruột và
hệ thần kinh trung ương (CNS). Những tác
dụng phụ trên CNS bao gồm đau đầu vùng trán
dữ dội, chóng mặt, mất thǎng bằng, kém
minh mẫn, lú lẫn. Điều trị phenylbutazon kéo
dài gây viêm gan, viêm thận, thiếu máu bất
sản, giảm bạch cầu, mất bạch cầu hạt và
giảm lượng tiểu cầu.
Tất
cả các thuốc glucocorticoid, do kích thích
phản hồi (feedback) tiêu cực, có thể ức
chế trục vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến
thượng thận (HPA). Ngoài ra, những tác dụng
phụ khác của glucocorticoid rất nổi tiếng và
xuất hiện ở hầu hết các bệnh nhân sau
khi điều trị kéo dài với liều trên mức
sinh lý. Những tác dụng phụ này bao gồm: loãng
xương, viêm tụy, đái đường do steroid, đục
thủy tinh thể, tǎng nhãn áp, rối loạn tâm
thần, bệnh nấm candida miệng và các nhiễm
trùng cơ hội khác, suy giảm miễn dịch, tǎng
cân và teo da. Mặc dù các corticosteroid có
hiệu quả rõ rệt trong điều trị một số
bệnh, việc dùng thuốc kéo dài bị hạn
chế do có nhiều tác dụng phụ nghiêm
trọng.