Trang chủ
CHUYÊN TRANG
CÁC BỆNH CÚM
Chủng virus đang tấn công nhóm người nguy cơ cao
VIRUS VÀ BỆNH GAN
Thiếu kali dễ bị bệnh gan
BỆNH LAO
Nhiều thách thức trong phòng, chống lao
BỆNH TIM MẠCH
Nhịp tim bất thường tăng nguy cơ mất trí nhớ
HIV/AIDS
Người nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV sẽ được hỗ trợ vay vốn
SỨC KHỎE SINH SẢN
Có con sau 19 lần sảy thai
SỨC KHỎE VỊ THÀNH NIÊN
Trang bị kiến thức giới thông qua câu lạc bộ

LIÊN KẾT
Viêm bàng quang (30/11/2010) Trang in Trang in

Viêm bàng quang là viêm hoặc nhiễm trùng bàng quang hoặc đường tiết niệu. Nó cũng được coi là viêm đường tiết niệu (UIT), một bệnh nhiễm trùng bắt đầu từ hệ tiết niệu. UIT có thể đau và khó chịu. Bệnh cũng có thể trở thành một bệnh nặng nếu lan tới thận.

Hệ tiết niệu bao gồm thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Tất cả đều giữ một vai trò khác nhau trong việc bài tiết nước tiểu. Thận, là hai bộ phận hình hạt đậu ở phía sau trên vùng bụng, lọc nước tiểu từ máu. Hai ống được gọi là niệu quản mang nước tiểu từ thận xuống bàng quang, nơi chứa nước tiểu cho tới khi nó được bài tiết ra khỏi cơ thể qua niệu đạo.

Khoảng ngắn giữa hậu môn và âm đạo, và độ dài của niệu đạo ngắn, làm cho phụ nữ dễ bị viêm đường tiết niệu hơn nam giới.

Có 2 loại viêm bàng quang chính, đó là:

  • Viêm bàng quang mắc phải trong cộng đồng. Nhiễm trùng này xuất hiện khi những người không nhập viện bị viêm bàng quang. Bệnh này thường gặp ở phụ nữ từ 30-50 tuổi, nhưng hiếm gặp ở nam giới thuộc lứa tuổi này. Tuy nhiên, nam giới > 50 tuổi có thể có nguy cơ bị loại nhiễm trùng này do phì đại tuyến tiền liệt, là bệnh hay gặp ở nam giới cao tuổi có thể cản trở lưu lượng nước tiểu.

  • Viêm bàng quang mắc phải tại bệnh viện. Nhiễm trùng này xuất hiện ở những người đang nằm viện. Bệnh thường gặp ở những người được đặt thông niệu đạo, một thủ thuật thường làm trước một số thủ thuật ngoại khoa hoặc với một số xét nghiệm chẩn đoán. Viêm bàng quang mắc phải tại bệnh viện thường xuất hiện khi đặt thông niệu đạo tạm thời hoặc vĩnh viễn.

Dấu hiệu và triệu chứng

Không phải tất cả mọi người bị viêm bàng quang đều có dấu hiệu và triệu chứng, nhưng phần lớn mọi người sẽ có một vài triệu chứng. Những dấu hiệu và triệu chứng này có thể gồm:

  • Rất buồn tiểu và đi tiểu lâu.

  • Cảm giác đau rát khi đi tiểu.

  • Tiểu nhiều lần, với lượng nước tiểu ít.

  • Đái máu

  • Nước tiểu đục hoặc hôi

  • Cảm giác chèn bụng dưới.

  • Sốt nhẹ

Ở trẻ nhỏ, các đợt đái dầm mới cũng có thể là dấu hiệu của UTI.

Nguyên nhân

UTI thường xuất hiện khi vi khuẩn từ ngoài vào trong đường tiết niệu, thường qua niệu đạo, và bắt đầu sinh sôi. Hệ tiết niệu được cấu tạo không cho các vi khuẩn này xâm nhập. Nước tiểu cũng có các đặc tính kháng khuẩn, ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Tuy nhiên, một số yếu tố làm tăng cơ hội để vi khuẩn lưu lại và sinh sôi trong đường tiết niệu.

Viêm bàng quang thường được coi như viêm bàng quang tuần trăng mật vì bệnh thường xuất hiện ở phụ nữ sau quan hệ tình dục. Khi quan hệ tình dục, vi khuẩn vào bàng quang qua niệu đạo. Nhưng thậm chí những bé gái và phụ nữ chưa quan hệ tình dục cũng dễ bị viêm đường tiết niệu dưới do hậu môn, một nguồn vi khuẩn ổn định, rất gần với niệu đạo nữ.

Hơn 90% số trường hợp viêm bàng quang là do Escherichia coli, loài vi khuẩn thường thấy ở vùng trực tràng. Theo một nghiên cứu được công bố vào ngày 4/10/2001, một chủng E. coli kháng kháng sinh mới có thể làm tăng UTI khó điều trị ở phụ nữ.

Yếu tố nguy cơ

Một số người dễ bị viêm bàng quang hoặc viêm đường tiết niệu tái phát hơn những người khác.

Phụ nữ thuộc nhóm này. Tới 20% số phụ nữ trong cuộc đời sẽ bị viêm bàng quang. Nguyên nhân chính là do giải phẫu. Phụ nữ có niệu đạo ngắn hơn nam giới, làm giảm khoảng cách vi khuẩn phải vượt qua để vào bàng quang.

Phụ nữ có quan hệ tình dục dễ bị UTI hơn vì quan hệ tình dục có thể đẩy vi khuẩn vào niệu đạo. Các nghiên cứu cũng cho thấy phụ nữ dùng màng ngăn để tránh thai có thể có nguy cơ cao hơn. Thay đổi hormon trong thời kỳ mang thai cũng có thể làm tăng nguy cơ viêm bàng quang.

Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm bất cứ điều gì gây cản trở lưu lượng nước tiểu, như phì đại tuyến tiền liệt hoặc sỏi thận. Thay đổi hệ miễn dịch, có thể xuất hiện với các bệnh như bệnh tiểu đường, cũng có thể làm tăng nguy cơ UTI. Vì vậy đặt ống thông bàng quang dài ngày, có thể cần cho những người bị bệnh mạn tính hoặc người già.

Nghiên cứu do Viện Nghiên cứu Y học Quốc gia tài trợ cho thấy loại máu của phụ nữ có thể giữ vai trò trong nguy cơ tái phát viêm bàng quang và đường tiết niệu. Vi khuẩn có thể dễ dàng tấn công tế bào đường tiết niệu của những người có một số yếu tố máu nào đó. Nhưng cần nghiên cứu thêm để xác định liệu có tồn tại mối liên quan này và liệu nó có ích trong việc phát hiện những người có nguy cơ nhiễm trùng tái phát hay không.

Sàng lọc và chẩn đoán

Nếu bạn có triệu chứng viêm bàng quang, hãy đến khám bác sĩ càng sớm càng tốt. Nếu bác sĩ nghi ngờ bạn bị viêm bàng quang, bác sĩ có thể yêu cầu lấy mẫu nước tiểu để tìm vi khuẩn, máu hoặc mủ trong nước tiểu.

Biến chứng

Nếu được điều trị sớm và thích hợp, hiếm khi UTI có biến chứng. Nhưng nếu không điều trị, viêm đường tiết niệu có thể nặng hơn.

Viêm bàng quang không được điều trị có thể gây các biến chứng đe dọa tính mạng, như viêm thận (viêm thận - bể thận), có thể tổn thương thận vĩnh viễn. Trẻ nhỏ và người già có nguy cơ tổn thương thận cao nhất do viêm bàng quang vì các triệu chứng của bệnh thường bị bỏ sót hoặc chẩn đoán nhầm với các bệnh khác.

Điều trị

Kháng sinh là liệu pháp điều trị hàng đầu đối với viêm bàng quang mắc phải trong cộng đồng. Dùng thuốc nào và trong thời gian bao lâu tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe bệnh nhân và vi khuẩn được tìm thấy trong nước tiểu. Những thuốc được khuyến nghị nhiều nhất trong UTI đơn giản bao gồm amoxicillin (Amoxol, Trimox), ciprofloxacin (Cipro), nitrofutantoin (Macrodantin, Furadantin), sulfamethoxazol (Bactrim, Septra) và trimethoprim (trimpex, Proloprim). Đảm bảo rằng bác sĩ đã biết về các thuốc bạn đang dùng hoặc bạn dị ứng với những thuốc nào.

Thông thường, các triệu chứng sẽ hết sau vài ngày điều trị. Tuy nhiên, bạn cần dùng kháng sinh từ 3 ngày-1 tuần, tùy thuộc vào mức độ nặng của nhiễm trùng. Bất kể thời gian điều trị, toàn bộ liệu trình kháng sinh được bác sĩ khuyến nghị phải đảm bảo rằng nhiễm trùng hoàn toàn bị tiệt trừ.

Nếu bạn bị UTI tái phát, bác sĩ có thể khuyên dùng liệu trình kháng sinh dài ngày hơn hoặc chuyển bạn tới bác sĩ chuyên khoa tiết niệu hoặc bác sĩ chuyên khoa thận học để đánh giá xem liệu bạn có những bất thường đường tiết niệu gây nhiễm trùng hay không. Với phụ nữ, dùng liều đơn kháng sinh 1 lần sau khi quan hệ tình dục có thể có lợi.

Theo một nghiên cứu được công bố vào ngày 4/10/2001, UTI khó điều trị ở phụ nữ có thể là do chủng E. coli kháng kháng sinh mới. Chủng vi khuẩn mới có thể kháng các kháng sinh thường dùng để điều trị viêm bàng quang. Vì lý do này, các loại kháng sinh khác nhau và các phương pháp điều trị thay thế có thể rất cần thiết.

Viêm bàng quang mắc phải trong cộng đồng có thể là một thách thức điều trị vì vi khuẩn tìm thấy trong bệnh viện thường kháng với các loại kháng sinh quan trọng dùng để điều trị viêm bàng quang mắc phải trong cộng đồng. Với lý do đó, có thể cần các loại kháng sinh khác nhau và các phương pháp điều trị khác nhau. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang xem xét liệu đặt ống thông trước khi điều trị các sản phẩm kháng khuẩn có thể giúp giảm tỷ lệ loại viêm bàng quang này không.

Phòng tránh

Bạn có thể làm theo các bước sau để giảm bớt nguy cơ viêm bàng quang. Đặc biệt, phụ nữ có thể được lợi từ các bước sau:

  • Uống nhiều dịch, nhất là nước. Nước ép cây nam việt quất có thể có các đặc tính chống viêm.

  • Đi tiểu thường xuyên và tránh nhịn tiểu trong thời gian dài khi bạn cảm thấy không buồn đi tiểu.

  • Lau từ trước ra sau sau khi đại tiện để ngăn ngừa vi khuẩn ở vùng hậu môn lan sang âm đạo và niệu đạo.

  • Dùng vòi hoa sen tốt hơn là dùng bồn tắm.

  • Hằng ngày phải rửa sạch da quanh âm đạo và hậu môn.

  • Đi tiểu càng sớm càng tốt ngay sau khi quan hệ tình dục, và uống một cốc nước đầy để giúp đẩy vi khuẩn.

  • Tránh dùng thuốc xịt khử mùi hoặc các sản phẩm dành cho phụ nữ như thuốc rửa vùng sinh dục có thể kích ứng niệu đạo.

Tự điều trị

UTI có thể gây đau, nhưng bạn có thể làm nhiều bước để giảm bớt sự khó chịu cho tới khi kháng sinh làm tiêu tan nhiễm trùng. Đôi khi tấm lót nhiệt đặt trên bụng có thể giúp giảm thiểu cảm giác chèn bàng quang hoặc đau. Uống nhiều dịch và tránh cà phê, rượu, nước ngọt có cà phê, nước ép cam và thực phẩm có gia vị cho tới khi hết viêm. Những điều này có thể kích thích bàng quang và trầm trọng thêm nhu cầu đi tiểu nhiều lần hoặc đái rắt.

Nếu bạn bị viêm bàng quang tái phát, hãy báo ngay cho bác sĩ. Đồng thời, bạn có thể triển khai chiến lược làm giảm sự tái phát và những khó chịu do UTI mang lại.

Người xử lý: Trọng Duy

CHUYÊN MỤC LIÊN QUAN
TIN ĐỌC NHIỀU
ĐĂNG NHẬP
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Đăng ký
KHẢO SÁT
Đánh giá của bạn về chất lượng các tạp chí y học VN



TRA CỨU NHANH


Từ khóa


THỐNG KÊ TRUY CẬP
Lượt truy cập:
Đang xem: 39

BỘ Y TẾ
VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN-THƯ VIỆN Y HỌC TRUNG ƯƠNG
 
ÐT: 04.37.36.83.15;    Fax: 04.37.36.83.19;     Email: cimsi@cimsi.org.vn    Địa chỉ: ngõ 135 Núi Trúc - Ba Ðình - Hà Nội, Việt Nam
Phụ trách: Tiến sĩ, Bác sĩ Lương Chí Thành   Giấy phép
249/GP-CBC