Trang chủ
CHUYÊN TRANG
CÁC BỆNH CÚM
Chủng virus đang tấn công nhóm người nguy cơ cao
VIRUS VÀ BỆNH GAN
Thiếu kali dễ bị bệnh gan
BỆNH LAO
Nhiều thách thức trong phòng, chống lao
BỆNH TIM MẠCH
Nhịp tim bất thường tăng nguy cơ mất trí nhớ
HIV/AIDS
Người nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV sẽ được hỗ trợ vay vốn
SỨC KHỎE SINH SẢN
Có con sau 19 lần sảy thai
SỨC KHỎE VỊ THÀNH NIÊN
Trang bị kiến thức giới thông qua câu lạc bộ

LIÊN KẾT
PHÒNG CHỐNG THIẾU MÁU DINH DƯỠNG (12/06/2009) Trang in Trang in

Thiếu máu dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý xảy ra khi hàm lượng huyết cầu tố (Hb) trong máu xuống thấp hơn bình thường do thiếu một hay nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu.

Theo số liệu điều tra trong nước và trên thế giới thì thiếu máu dinh dưỡng rất phổ biến, trung bình có khoảng 30% dân số thế giới (khoảng 700-800 triệu người) bị thiếu máu. Những đối tượng hay bị thiếu máu nhất là trẻ em và phụ nữ có thai. Ở Việt Nam có đến 60% số trẻ em ở độ tuổi 6-24 tháng và 30-50% số chị em có thai bị thiếu máu.

Tác hại của thiếu máu dinh dưỡng:

1- Làm giảm khả năng lao động: khi thiếu máu, khả năng vận chuyển khí oxy của hồng cầu bị giảm, làm thiếu o xy ở các tổ chức, đặc biệt là tim, cơ bắp, não, gây nên các hiện tượng tim đập mạnh, hoa mắt chóng mặt, cơ bắp yếu và cuối cùng là cơ thể nhanh chóng mỏi mệt, giảm khả năng lao động chân tay và trí óc.

2- Khả năng học tập, phát triển trí tuệ của học sinh bị kém. Thiếu máu làm giảm lượng oxy của tổ chức não và tim, làm trẻ nhanh bị mỏi mệt., hay ngủ gật, khó tập trung tư tưởng dẫn đến kém tiếp thu bài giảng. Những dấu hiệu này thường được khắc phục sau khi bổ xung viên sắt.

3 - Làm tăng nguy cơ đẻ non, tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của của mẹ và con khi sinh nở, dễ bị chảy máu và bị mắc các bệnh nhiễm trùng ở thời kỳ hậu sản.

Nguyên nhân của thiếu máu dinh dưỡng:

Thiếu máu có thể gây ra do nhiều nguyên nhân khác nhau: do nhiễm ký sinh trùng (giun sán, sốt rét), do mất máu, do bệnh lý về huyết sắc tố (Hb), hay do thiếu dinh dưỡng. Về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng thì thiếu máu do thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu sắt, thiếu axit folic thiếu vitamin B12 là phổ biến hơn cả.

Nguyên nhân thường gặp nhất là do lượng sắt cung cấp từ ăn uống không đủ nhu cầu hàng ngày.

Lượng sắt thực tế hiện nay của bữa ăn người Việt Nam chỉ đạt khoảng 30 đến 50% nhu cầu nhất là ở các vùng nông thôn, do vậy tỷ lệ thiếu máu do thiếu sắt ở các vùng này thường rất cao.

Nhóm trẻ em và phụ nữ có nhu cầu rất lớn về sắt nên dù ăn uống tốt cũng không thể cung cấp đủ; mặt khác ở nhiều vùng nông thôn do bữa ăn còn nghèo nàn, lượng thức ăn động vật còn ít, trẻ em ăn sam chưa đúng cách, ... do đó rất có nguy cơ bị thiếu máu.

Những nguồn sắt trong thức ăn:

Có thể chia nguồn sắt trong thức ăn ra làm 2 loại chính:

·          Những thức ăn có nguồn gốc động vật như thịt, cá trứng ... có nhiều sắt và sắt có chất lượng cao, dễ được cơ thể hấp thu và sử dụng. Vì vậy một chế độ ăn có ít thức ăn động vật thường hay bị thiếu máu.

·          Những thức ăn nguồn gốc thực vật như ngũ cốc, gạo, ngô, một số loại rau có nhiều chất xơ (bữa ăn phổ biến ở nông thôn hiện nay) ,... thường có lượng sắt thấp và sắt chất lượng kém, làm cơ thể khó hấp thu và sử dụng.

·          Có một số rau quả nhiều vitamin C, lại có tác dụng hỗ trợ hấp thu sắt tốt hơn.

Những dấu hiệu nhận biết thiếu máu dinh dưỡng:

Với trẻ em: thường có các dấu hiệu da xanh xao, niêm mạc môi, lưỡi, mắt nhợt nhạt. Trẻ thường kém hoạt bát, nếu đã đi học thường học kém, hay buồn ngủ. Dễ bị các bệnh nhiễm trùng.

Ở phụ nữ có thai: thường gặp là da xanh, niêm mạc nhợt, mệt mỏi, khi thiếu nặng thường có dấu hiệu chóng mặt, tim đập mạnh.

Xét nghiệm máu sẽ cho chẩn đoán chính xác, xét nghiệm đơn giản nhất là định lượng Huyết cầu tố (Hb), lượng Hb giảm thấp hơn mức quy định là bị thiếu máu.

Phòng chống thiếu máu dinh dưỡng: bao gồm một số biện pháp sau:

1- Biện pháp cải thiện chế độ ăn, đa dạng hoá bữa ăn, ăn nhiều loại thức ăn khác nhau nhất là nguồn thức ăn động vật có nhiều sắt như thịt, gan, trứng, tiết, thức ăn giàu vitamin C như rau quả.

2- Bổ sung viên sắt cho các đối tượng có nguy cơ cao

  • Phụ nữ lứa tuổi từ 13 trở lên, cần được uống viên sắt dự phòng, mỗi tuần uống một viên để tạo nguồn sắt dự trữ đầy đủ cho cơ thể. Khi có thai cần kết hợp ăn uống tốt với uống viên sắt đều đặn, mỗi ngày một viên (60mg sắt) trong suốt thời gian mang thai cho tới sau khi sinh 1 tháng.
  • Bổ sung sắt cho trẻ em là rất cần thiết, nhưng cần có chỉ định và theo dõi của thầy thuốc.

3- Tăng cường sắt vào thực phẩm: Hiện nay nước ta đang nghiên cứu tăng cường sắt vào thức ăn như bánh bích qui, nước mắm, nhằm đưa một lượng sắt đủ cho nhu cầu qua những thức ăn này .

4- Phối hợp với các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống nhiễm khuẩn, vệ sinh môi trường, phòng chống nhiễm giun.

 

 

CHUYÊN MỤC LIÊN QUAN
TIN ĐỌC NHIỀU
ĐĂNG NHẬP
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Đăng ký
KHẢO SÁT
Đánh giá của bạn về chất lượng các tạp chí y học VN



TRA CỨU NHANH


Từ khóa


THỐNG KÊ TRUY CẬP
Lượt truy cập:
Đang xem: 109

BỘ Y TẾ
VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN-THƯ VIỆN Y HỌC TRUNG ƯƠNG
 
ÐT: 04.37.36.83.15;    Fax: 04.37.36.83.19;     Email: cimsi@cimsi.org.vn    Địa chỉ: ngõ 135 Núi Trúc - Ba Ðình - Hà Nội, Việt Nam
Phụ trách: Tiến sĩ, Bác sĩ Lương Chí Thành   Giấy phép
249/GP-CBC