Trang chủ
CHUYÊN TRANG
CÁC BỆNH CÚM
Chủng virus đang tấn công nhóm người nguy cơ cao
VIRUS VÀ BỆNH GAN
Thiếu kali dễ bị bệnh gan
BỆNH LAO
Nhiều thách thức trong phòng, chống lao
BỆNH TIM MẠCH
Nhịp tim bất thường tăng nguy cơ mất trí nhớ
HIV/AIDS
Người nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV sẽ được hỗ trợ vay vốn
SỨC KHỎE SINH SẢN
Có con sau 19 lần sảy thai
SỨC KHỎE VỊ THÀNH NIÊN
Trang bị kiến thức giới thông qua câu lạc bộ

LIÊN KẾT
NHỮNG HỘI CHỨNG CHÈN ÉP DÂY THẦN KINH (19/05/2009) Trang in Trang in

Những hội chứng đó phát sinh ở vùng các dây thần kinh hứng chịu ngoại lực khi chúng đi qua các ống sợi xương có khuynh hướng ràng buộc với dây thần kinh. Các nguyên nhân bên ngoài bao gồm phù, tạo chai cứng, kết quả của sự gãy xương, sự dồn nén bên ngoài vì những động tác đặc thù hoặc do sự dồn nén cơ học. Dây thần kinh căng lên ở nơi có sự dồn nén.

Dây thần kinh nguồn của chi trên

Đám rối thần kinh cánh tay bắt nguồn từ nhánh trước cấp một của những dây thần kinh cổ C5, C6, C7, C8 và T1 (Hình 8.1). Nó bao gồm 8 rễ, thân, nhánh phân chia và dây. Rễ thấy ở giữa những cơ thang trước và cơ thang giữa ở cổ. Thân nằm trong tam giác sau của cổ. Những phân nhánh nằm sau xương đòn. Dây thì thấy trong hố nách, ở đó chúng chia thành các nhánh cuối. Các nhánh phát sinh chính là ở rễ và dây. Dây thần kinh trên xương bả vai là nhánh duy nhất từ thân ra. Những thần kinh chính đi từ các dây thương liên quan đến hội chứng chèn ép thần kinh là các dây thần kinh nách, xương quay giữa và xương trụ.

Nguyên nhân gây bệnh

Các hội chứng thần kinh - mạch ở chi trên có thể bao gồm một số phần của đám rối thần kinh cánh tay. Những tổn thương do nén của đám rối thần kinh cánh tay có thể do những nguyên nhân bên trong hoặc bên ngoài; các phức hợp triệu chứng hay gặp nhất dính líu đến thân dưới cùng, với đau và loạn cảm giác dọc bờ giữa của chi. Sức (nén) ở lối ra nơi ngực tác động tới thần kinh và mạch khi chúng đi qua từ cổ tới hốc nách. Ở gần, nó thường do dị dạng về giải phẫu ở vùng các cơ thang. Ở xa hơn, nó có thể do sự biến đổi cơ học, sinh học.

Do tính chất linh hoạt của vai, những cấu trúc thần kinh mạch có thể thay đổi hướng bằng một góc 180°. Mỏm quạ và tiểu ngực hoạt động như một nhánh thay đổi hướng và đây là một điểm chèn ép tiềm tàng (Karas, 1990).

Hình 8.1

Dị dạng cấu trúc và bẩm sinh bao gồm hội chứng xương sườn cổ, hội chứng cơ thang trước, băng xơ hay xơ cơ. Xương sườn cổ là những dị dạng xương chung nhất liên hợp với hội chứng chỗ thoát ngực (Hình 8.2). Dưới 10% người bệnh một xương sườn cổ sẽ có triệu chứng (Brown, 1983; Brown và Charlesworth, 1988). Sự phát triển không bình thường các cơ thang hoặc băng xơ dị dạng trong các cơ bắp có thể liên lụy đến thân trên của đám rối thần kinh cánh tay (Roos, 1982).

Sức ép động

Sức ép xương sườn - đòn luôn động, sự đưa cánh tay lên cao làm quay xương đòn ở khớp mỏm cùng vai đòn với xương ức đã thu hẹp khoảng cách xương sườn đòn. Khoảng này sẽ thu hẹp hơn nữa do hai vai thu vào, nhất là phải mang một vật nặng như ba lô. Thở vào sâu sẽ nâng xương sườn đầu tiên lên, thậm chí thu hẹp khoảng cách hơn nữa (Lord, 1971). Nguyên nhân thường thấy nhất của tổn thương do bên ngoài đối với đám rối thần kinh cánh tay là do đeo ba lô (Hirasawa và Sakakida, 1983). Những dây ở nách nén bó rối thần kinh chống lại xương đòn và bao nặng kéo dây đeo vai về phía sau làm tăng sức kéo, có thể chỉ liên quan đến các dây thần kinh nách hoặc xương quay hoặc tất cả bó rối thần kinh.

Việc sử dụng hình 8 giải băng trong điều trị sớm cho một trường hợp xương đòn gãy cũng có thể ép bó rối thần kinh cánh tay.

Sự ép chặt dây thần kinh riêng biệt ở chi trên

Dây thần kinh trên bả vai C5, C6 là một nhánh của thân trên của đám rối thần kinh cánh tay trong tam giác sau và đi qua lỗ trên xương bả vai vào hố trên xương mỏm vai. Ở đây nó tỏa ra các nhánh cơ đến trên mỏm gai và mạch chi khớp đến vai và các khớp mỏm cùng vai - đòn. Nó sẽ đi qua chỗ lõm gai xương bả vai - ổ chảo dẫn đến cơ dưới gai xương bả vai. Sự ép chặt trên bả vai có thể xảy ra ở lỗ trên bả vai do một chỗ lõm hẹp hoặc tới một chẽ đôi ngang dây chằng vai, xoắn dây thần kinh, sẽ ảnh hưởng đến cả hai cơ trên mỏm gai và dưới gai xương bả vai (Rengachary và cộng sự, 1979). 50% các trường hợp có thể bị một dây chằng gai xương bả vai - ổ chảo, một băng mạc tách trên mỏm gai rư từ dưới gai xương bả vai. Sự ép chặt ở đây chỉ liên lụy đến cơ dưới gai xương bả vai (Rengachary và cộng sự, 1979).

Nén ép thần kinh vòng cung

Dây thần kinh vòng cung hay nách C5, C6 đi vào khoảng tứ giác nằm ở dưới khớp vai và dẫn đến cơ delta và cơ dài tròn nhỏ. Nó cũng dẫn tới da ở trên nửa dưới cơ delta. Nó có thể bị tổn thương trật khớp trước dưới của khớp vai. Các gai xương trên bờ dưới ổ chảo ở các cầu thủ nhà nghề giao bóng môn bóng chày đã dẫn đến tổn thương dây thần kinh mãn tính và sự nén ép của dây thần kinh nách và hội chứng của các mạch thể dịch cung sau ở khoang tứ giác.

Thần kinh thuộc xương quay C6, C7, C8 dẫn đến các đầu dài, giữa và bên của các cơ ba đầu, trước khi nó đi vào rãnh góc, ở đó nó tỏa dây thần kinh tới khuỷu tay, biểu bì bên dưới của cánh tay và biểu bì sau của cẳng tay. Rồi nó xuyên qua vách gian cơ bên và dẫn tới cánh tay và xương quay cánh tay. Ở mỏm cầu lồi bên, nó chìa thành các nhánh nông và sâu (gian xương sau). Nhánh nông đi xuống cẳng tay ở chỗ bên động mạch xương quay và xuyên qua mạc dày giữa rìa sau của xương quay cánh tay với xương quay cổ tay kéo dài thành dưới da. Nó đi tới da trên phía lưng của ngón tay cái và tỏa ba tia với một nửa ngón.

Gian xương sau cung cấp cho sự quay ngửa và xương quay duỗi thẳng cổ tay ngắn và đi qua giữa hai đầu của cái quay ngửa để tới tất cả các cơ duỗi khác ở ngăn sau cẳng tay.

Hình 8.2. Một xương sườn cổ

Sức ép của dây thần kinh xương quay

Dây thần kinh xương quay có thể bị ép ở nách bởi lực ép trực tiếp của đôi nạng chống nách. Ở những trường hợp gãy xương cánh tay giữa thứ ba giây thần kinh xương quay có thể bị nguy hiểm vì bản thân việc gãy xương hoặc bởi sự hình thành can. Sức nén ở mức độ này không ảnh hưởng tới các cơ 3 đâu nhưng liên quan tới cơ duỗi của cẳng tay. Vì đi qua nách cơ gian bên, nó có thể bị ảnh hưởng.

Dây thần kinh gian xương sau đi qua giữa hai đầu của bộ phận quay ngửa. Đầu nông có thể bị xơ một phần hoặc toàn bộ ở gốc của nó từ bên mỏm cầu lồi. Sự nén ép dây thần kinh ở vùng này có thể là vì:

1. Một đầu nông hoàn toàn xơ, gọi đây là vòng cung Frohse (Spinner, 1968)

2. Băng xơ ở phía xa rìa của bộ phận quay ngửa (Posner, 1990)

3. Băng xơ ở mép gân sắc dọc theo xương quay duỗi cổ tay ngắn (Spinner, 1968)

4. Một bó mạch máu xương quay hồi qui (Henry, 1963)

Thần kinh xương quay có thể bị chèn ép vì sức kéo lên nhánh nông của xương quay khi nó xuyên qua vách dày ở cổ tay (Hội chứng Wartenberg's) gây đau và loạn cảm giác phía xương quay mặt sau cánh tay của bàn tay và ngón cái, lên sự gập và sự chuyển dòng xương trụ của cổ tay. Vấn đề này có xu hướng xảy ra ở các vận động viên phải lặp đi lặp lại việc quay sấp quay ngửa và gập xương trụ cổ tay, các băng cổ tay và còng tay cũng có thể có một hiệu ứng tương tự (Reltig, 1990).

Thần kinh giữa C5, C6, C7, C8, T1 chéo qua giữa khớp khuỷu tay tới động mạch cánh tay và gân của cơ hai đầu, đi qua dưới mạc hai đầu. Trong hố xương trụ nó tỏa ra các nhánh đầu tiên của nó đến các cơ từ nguồn chung cơ gấp và rời khỏi hố giữa hai đầu của cơ quay sấp dài và tròn. Trong 50% các trường hợp (Johnson và cộng sự, 1979) đã thấy một băng sợi trên dạng phía lưng của đầu nông. Nó đi qua dưới cung sợi của cơ gấp bề mặt ngón và đúng trên cổ tay và nằm sau bên tới gân dài lòng bàn tay. Nhánh nông lòng bàn tay đi qua bề mặt tới cơ gấp dây chằng vòng và dẫn đến phần thuộc xương quay của lòng bàn tay.

Dây thần kinh chính đi sâu qua dây chằng vòng cơ gấp. Một vài thay đổi của dây thần kinh giữa đã được miêu tả bởi Lanz (1977) (Hình vẽ 8.3). Ở điểm xa của dây chằng vòng trong 50% các trường hợp thì nhánh cơ vận động đến các cơ mô cái uốn cong trở lại đi qua gân của cơ gấp dài ở ngón tay cái để cung cấp cho các cơ mô cái, cơ giạng ngắn ngón tay cái, đối kháng ngón cái và đầu nông của cơ gấp ngón cái ngắn. Trong 33% các trường hợp nó tỏa ra nhánh cơ vận động dưới dây chằng vòng và đi theo hướng thông thường nhưng 20% nhánh cơ vận động xuyên qua dây chằng gần 2-6mm đến điểm xa của dây chằng tiếp với các cơ mô cái.

Sự chèn ép dây thần kinh giữa

Dây thần kinh giữa có thể bị chèn ép ở phần dưới thứ ba của cánh tay bời một dây chằng Struthers, một mạc hai đầu dầy không bình thường, nhưng nơi thường xuyên nhất của sự chèn ép trong vùng này là nơi mà dây thần kinh đi qua giữa hai đầu của cơ quay sấp dài và tròn cũng có thể bị chèn ép ở chỗ nó đi qua sâu tới một vòng cung sợi, ở gần lề của cơ gấp bề mặt ngón. Sự gấp chống lại của gân nông tới ngón giữa có chiều hướng làm nặng triệu chứng.

Sự chèn ép của thần kinh gian xương trước thường hay xảy ra sâu tới băng sợi của đầu dây cơ quay sấp tròn và dài hoặc ở gân gốc nông (Sharrard, 1968).

Hội chứng ống cổ tay

Hội chứng chèn ép thường gặp nhất ở cổ tay và bàn tay ở các vận động viên liên quan đến dây thần kinh giữa vì nó đi qua dưới dây chằng vòng cơ gấp để tới cơ mô cái và da của ba tia tỏa và một nửa ngón tay. Hội chứng ống cổ tay thường thường xuất hiện đau và loạn cảm giác của ngón cái, trỏ và giữa. Nó không dính líu gì với da của lòng bàn tay và nó có thể tiến triển làm yếu và hư các cơ mô cái. Hiện tượng đau thường xảy ra ban đêm hoặc khi hoạt động. Có một dấu hiệu Phalens dương tính xuất hiện khi giữ chặt cả hai cổ tay ở tư thế uốn cong hoàn toàn trong vòng 1-2 phút sẽ lại gây đau. Dấu hiệu Tinel dương tính. Điều trị phải xác định rõ nguyên nhân, nẹp cổ tay ở tư thế gập mu bàn tay, đặc biệt là ban đêm. Nếu điều này không làm giảm triệu chứng, tiêm steroid và xylocain hoặc có khi cần phẫu thuật giải tỏa chèn ép. Nó gắn liền với bất cứ môn thể thao nào cử động của cổ tay lặp đi lặp lại nhiều lần.

Dây thần kinh xương trụ C8, T1 xuyên qua vách cơ gian giữa để đi vào phần sau của cánh tay. Mạc sâu dày ở đó mà nó xuyên qua vách có thể chèn ép dây thần kinh, chỗ này gần 8cm trên mỏm lồi cầu giữa. Rồi nó lại đi qua sau mỏm lồi cầu giữa và vào cẳng tay giữa hai đầu của cơ gấp xương trụ cổ tay mà nó đến để đi vào cẳng tay. Dây thần kinh xương trụ có thể bị tổn hại ở khuỷu tay do tổn thương vì sức kéo, như kết quả của lực động chệch ra ngoài ở các vận động viên, thí dụ ném đĩa với một vòng quay khuỷu tay và liệng đi. Một stress tăng chệch có thể là kết quả của một ca gãy xương từ trước trên lồi củ hoặc tổn thương tới sụn đầu xương. Sự bất thường của xương hoặc sự dính có thể kéo những triệu chứng thần kinh. Chứng phì đại cơ gấp xương trụ cổ tay và đầu giữa của cơ ba đầu cũng có thể cùng gây nên va đập ở các vận động viên.

Hình 8.3.

Ở trong cẳng tay, 4,5 cm trên cổ tay, nó tỏa ra nhánh da lưng, nhánh này đi tới phía lưng độ dài một ngón rưỡi của xương trụ. Dây thần kinh xương trụ đi qua không sâu tới đoạn chính của cơ gấp dây chằng vòng trong ống Guyon, qua giữa tới hình hạt đậu và bên tới xương móc (Hình 8.4a). Dây thần kinh chia thành nhánh dưới da và một nhánh cơ vận động sâu ở diềm xa của ống. Nhánh nông đi qua các mô cơ út và là da đến dạng gan bàn tay, độ một ngón rưỡi của xương trụ. Nhánh cơ vận động đi giữa và xa tới móc của xương móc, tới các cơ mô út và hầu hết các cơ nhỏ của tay. Shea và McClain (1996) đã miêu tả ba chỗ chèn ép trong vùng này.

Tương đối hay gặp các bệnh thần kinh gan bàn tay, đặc biệt là ở các vận động viên đua xe đường dài (Frontera, 1983) (Hình 8.4b). Những nguyên nhân tiềm tàng là mòn găng tay, không bọc tay nắm, nắm chặt kéo dài tay nắm chúc xuống mà không thay đổi vị trí (Reltig, 1990). Gãy móc của xương móc có thể liên lụy đến nhánh cơ vận động.

Điều trị là xác định nguyên nhân của sự chèn ép. Người bệnh có thể kêu đau và loạn cảm giác trong khi ném đĩa, do đó kỹ thuật ném phải được phân tích và sửa đúng. Sự chèn ép ở ống Guyon thường dẫn đến nhạy cảm đau trên ống và một tín hiệu Tinel dương tính với tia vào ngón út và nửa xương trụ ngón nhẫn. Có thể bị đau các cơ nhỏ của bàn tay vì sự liên quan đến nguồn vận động. Điều trị là phải nghỉ ngơi, chườm lạnh và nẹp cố định lại, chống viêm tấy bằng thuốc không có steroid và chỉnh đúng vị trí, bám chặt tay nắm ở xe đạp. Nếu triệu chứng không cải thiện có thể cần đến can thiệp của ngoại khoa.

Dây thần kinh chậm lớn C2 xuyên qua đầu cơ nửa gai và cơ thang đi tới phần sau của da đầu. Sự chèn ép dây thần kinh có thể xảy ra do tăng co bóp của đầu cơ nửa gai và cơ thang sau roi (Vital và cộng sự, 1989).

Hình 8.4.

Sự ép chặt dây thần kinh riêng biệt ở chi dưới

Ở chi dưới, hội chứng ép chặt có thể ảnh hưởng đến các nhánh vùng thắt lưng và đám rối xương cùng.

Dây thần kinh bên da của đùi L2 và L3 đi vào đùi bằng cách xuyên qua dây chằng bẹn, ở đó nó nằm trong một ống sợi. Nó đi tới phần trước - bên của đùi và phần trước của vùng mông (Last, 1978). Sự chèn ép dây thần kinh ở trong ống hay tổn thương ở đùi bởi sử dụng và sự không đối xứng trong số các vận động viên thể dục có thể gãy nên đau đùi dị cảm.

Dây thần kinh vùng chậu bẹn L1 có thể bị ép chặt ở phần dưới của thành bụng trước và sau phẫu thuật vì dính hoặc các cơ thiếu trương lực. (Hình vẽ 8.5).

Hình 8.5.

Hội chứng ống xương cổ chân

Dây thần kinh xương chày sau L4, L5, S1, S2, S3 đi qua dưới gân cơ gấp ở cổ chân, nó duỗi ra từ xương búa giữa của xương chày đến bờ giữa của xương gó (Hình 8.6). Đi sâu đến gân là những gân cơ gấp và các mạch, dây thần kinh sau xương chày. Dây thần kinh sau xương chày tỏa ra dây xương gót giữa S1, S2 chúng xuyên qua gân để đi tới mặt sau và giữa của gót chân. Nó chia thành những dây thần kinh gan bàn chân giữa và bên chạy vào các ống riêng biệt. Dây thần kinh giữa gan bàn chân L4, L5 chia thành những nhánh ngón, gây cảm giác tới cơ giạng ngón cái, cơ gấp ngón cái ngắn, cơ gấp ngón ngắn và cơ gian đầu tiên. Gan bàn chân bên S1, S2 xúc tiến cảm giác tới bên gan bàn chân và một nửa các ngón và đi tới các cơ bên trong bàn chân.

Dây thần kinh xương chày sau có thể bị chèn ép gần như trước khi nó chia ra, xa hơn, các dây thần kinh gan bàn chân giữa hoặc bên đều có thể liên lụy. Sự chèn ép thường hay xảy ra nhất là của nhánh gan bàn chân với ngón thuộc dây thần kinh giữa gan bàn chân tới kẽ thứ 3, nhưng nhánh ngón của kẽ thứ tư có thể cũng bị ảnh hưởng. Người với hai bàn chân quay xấp và một cung ngang yếu ở các đầu của xương đốt ngón chân, bắt nhánh ngón tới kẽ thứ ba chịu một loạt các strees mà kết quả là đau xương đốt bàn chân Morton. Ở những vận động viên chạy và các vũ công balê, một u thần kinh có thể phát triển. Các vận động viên chạy có một tia thứ nhất di động có thể nén ép thần kinh ngón đến kẽ thứ hai. Chèn ép ngón chân trong giầy chật sẽ làm đau tăng thêm, nó sẽ giảm đau khi cởi giầy ra.

Dây thần kinh nông mặt ngoài cẳng chân L4, L5 là một nhánh của mặt ngoài cẳng chân chung ở cổ xương mác và nó chạy trong ngăn bên của bắp cẳng chân. Nó xuyên qua mạc dày 10-12 cm trên mắt cá bên. Ở trên mắt cá 6 cm, nó chia thành các nhánh chủ yếu cung cấp cho phía lưng (mu) bàn chân. Khe thứ nhất được cung cấp bởi dây thần kinh sâu mặt ngoài cẳng chân. Sự ép kẹp chặt xảy ra ở nơi mà nó xuyên qua mạc dày, đặc biệt nếu có thoát vị cơ do các khuyết tật mạc (Schon và Baxter, 1990). Căng cơ quá mức ở cổ chân mạn tính cũng gây căng thẳng dây thần kinh.

Dây sâu mặt ngoài cẳng chân L5 là một nhánh của mặt ngoài cẳng chân chung ở cổ của xương mác rồi chạy vào ngăn trước của bắp cẳng chân và cung cấp cho các cơ trong ngăn và da của khe thứ nhất đi qua dưới bên dưới dây chằng vòng trên và dưới. Dây thần kinh có thể bị chèn ép do một hội chứng ngăn trước. Sự ép chặt xảy ra chủ yếu ở các vận động viên chạy. Nó cũng có thể xảy ra với các cầu thủ bóng đá, diễn viên nhảy múa, và vận động viên trượt tuyết. Nó thường hay xảy ra nhất ở mạc giữa cơ duỗi trước (Schon và Baster, 1990). Bong gân cổ chân lặp đi lặp lại, đi giầy chặt hay chấn thương cũng gây nên kẹp chặt dây thần kinh.

Dây thần kinh bắp chân L5, S1, S2 kèm theo tĩnh mạch hiển và chạy dọc theo rìa bên của bàn chân. Nó có thể bị kẹp chặt ở bất cứ chỗ nào dọc theo đường của nó. hay xảy ra nhất ở các vận động viên chạy có tiền sử bong gân cổ chân.

Hình 8.6.

 

CHUYÊN MỤC LIÊN QUAN
TIN ĐỌC NHIỀU
ĐĂNG NHẬP
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Đăng ký
KHẢO SÁT
Đánh giá của bạn về chất lượng các tạp chí y học VN



TRA CỨU NHANH


Từ khóa


THỐNG KÊ TRUY CẬP
Lượt truy cập:
Đang xem: 64

BỘ Y TẾ
VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN-THƯ VIỆN Y HỌC TRUNG ƯƠNG
 
ÐT: 04.37.36.83.15;    Fax: 04.37.36.83.19;     Email: cimsi@cimsi.org.vn    Địa chỉ: ngõ 135 Núi Trúc - Ba Ðình - Hà Nội, Việt Nam
Phụ trách: Tiến sĩ, Bác sĩ Lương Chí Thành   Giấy phép
249/GP-CBC